Archive for June 27th, 2009

Quốc Hội thành Quốc Hại

June 27, 2009

Chữ Quốc hội và Quốc hại chỉ khác nhau có một vần. Quốc hội trên lý thuyết là cơ quan quyền lực tối cao trên giấy trắng mực đen của Hiến pháp VNCS. Nó trở thành Quốc hại khi thực hiện như là cơ quan của đảng, vì đảng, do đảng CS Hà nội. Giống như quyền tự do đi lại qui định rõ ràng trong hiến pháp nhưng trên thực tế nhiều văn kiện dưới hiến pháp và dưới luật trên thực tế đã buộc người dân Việt ở phải có hộ khẩu, đi đứng phải có giấy tạm vắng, tạm trú của công an. Nếu không có hộ khẩu con người Việt Nam coi như sanh vô gia cư, tử vô địa táng. Thế mà chưa thấy một ‘đại biểu nhân dân nào’ dám đặt vấn đề vi hiến của những ‘văn kiện dưới luật’ này của công an Việt Cộng. Cũng như khẩu hiệu “Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý, Nhân dân làm chủ Đất nưóc”, khi đem vào thực tiễn cuộc sống trở thành “Đảng lãnh đạo Nhà Nước, quản lý Nhân dân, làm chủ Đất Nước”; Đảng CS Hà nội không cần dời dấu phết chi cho mất công mà vẫn trở thành chủ nhân ông thực tế của cả Nhà nuớc, Nhân dân, và Đất nước một mình ênh.

Không oan uổng cho cái gọi là Quốc hội đã trở thành Quốc hại này trong chế độ CS Hà nội khi kiểm điểm một vài quyết định thuộc quyền lợi sanh tử của quốc gia, dân tộc VN mà cơ quan gọi là quyền lực tối cao trên lý thuyết này đã làm — tưởng như giỡn chơi vậy.

Cái gọi là Quốc hội đã quốc hại khi câm như hến trước việc Thủ Tướng Phạm văn Đồng ký gởi “Công hàm bán nước”, triều cống hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Tổ quốc VN cho TC. Bộ Chánh Trị của Đảng CSVN ký hiệp định biên giới dâng cho TC 1,000 km2 đất vùng biên giới năm 1958. Mất Ải Nam Quan mà tất cả cán bộ đảng viên đều có học một câu có giá trị lịch sử, điạ lý bất biến mà người Việt Nam nào cũng học trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, nước VN hình chữ S, từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Hiệp định lãnh hải đã dâng cho TC 10,000 km2, phân nửa Vịnh Bắc Việt năm 2000. Còn Hiệp ước Việt-Trung về Vịnh Bắc bộ và Nghị định thư về hợp tác đánh cá trong Vịnh Bắc Việt – những quyền lợi sanh tử của đất nước ông bà VN để lại, thì cái gọi là Quốc hội thông qua không thảo luận, nhanh như chớp trong phiên họp bế mạc, với số phiếu 424 thuận, 1 chống và 8 không có ý kiến. “Và Nghị quyết 23/QH11/2003 về nhà đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01-07-1991” thì cái gọi là Quốc Hội thông qua nhanh như cướp vậy.

Về vấn đề TC khai thác bauxite tàn phá môi sinh, văn hoá đồng bào Thượng ở Cao Nguyên và nguy hiểm cho an ninh quốc phòng VN, Đảng Nhà Nước CS triều cống cho quan thấy TC, dấu kín như đúc. Đến khi quân dân Tàu đem xe, máy, người vào như chỗ không người, người Việt phản ứng mạnh. Các cựu và đương kim tướng lãnh CS Hà nội ‘kiến nghị’. “Hàng trăm trí thức, văn nghệ sĩ trong ngoài nước ‘kiến nghị’ gởi Quốc Hội xin đưa vấn ra trước Quốc hội và mọi chủ trương liên quan phải được Quốc hội quyết định; xin Quốc Hội chính thức dừng ngay lại, có giám sát chặt chẽ cho tới khi Quốc hội xem xét toàn bộ báo cáo tiền khả thi và đưa ra những phê chuẩn thích hợp”. Đây là cơ hội bằng vàng để Quốc hội có thể lấy thế nhân dân giành quyền lập pháp, giám sát chánh phủ lại. Thế nhưng trong cuộc họp báo do Văn phòng Quốc hội tổ chức chiều 18-5 giới thiệu về kỳ họp Quốc hội thứ 5 khóa XII, ông Trần Đình Đàn, chủ nhiệm Văn phòng, đã tĩnh bơ như người ‘Hà lội’, tuyên bố rằng Quốc hội hoàn toàn ủng hộ chủ trương khai thác bauxite, lập lại lời của Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng, khai thác bauxite là chủ trướng ‘lớn’ của Đảng.

Hành động của cái gọi là Quốc hội thành Quốc hại đó rất dễ hiểu. Đảng đã ‘cơ cấu’ 95% đại biểu nhân dân phải là người đảng viên. Mặt Trận Tổ Quốc cúc cung tận tụy phục vụ Đảng hơn, sàng lọc, dàn dựng sau khi ‘Đảng cử dân bầu’, tỷ lệ đảng viên tăng cao hơn ‘cơ cấu’ của Đảng. Với đa số tuyệt đối đó, ‘đại biểu nhân dân’ (từ của CS chỉ dân biểu) ngoài đảng dù có tài thánh cũng không làm gì được cho dân.

Đại biểu nhân dân ăn cơm Chuá là Đảng CS phải múa tối ngày cho Đảng. Đảng viên CS làm ‘đại biểu nhân dân’ phải thảo luận biểu quyết theo lịnh đảng vì kỷ luật đảng CS là kỷ luật sắt. Chớ không như của chánh đảng của xứ tự do, dân biểu có thể thảøo luận, biểu quyết khác chủ trương Đảng, Đảng và quần chúng không coi đó là hành động phản đảng vì quan niệm quyền lợi của quốc dân cao hơn Đảng.

Đại biểu nhân dân trong cái gọi là quốc hội của VC, đó không hạn kỳ làm đại diện dân nên sống lâu lên lão làng trở thành quan dân biểu, mất quan điển quần chúng. Lại còn kiêm nhiệm chức vụ Nhà Nước nữa. Trong 491 thành viên của Quốc Hội có khoảng 75% kiêm nhiệm thêm những công việc khác trong các cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị, đoàn thể thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam. Vừa bận với công tác kiêm nhiệm vừa lo ngại nhiều cái ghế của mình, vừa không thời gian gặp gỡ cử tri, nên chẳng đại biểu nào có thời gian theo dõi, nghiên cứu, trong khi các vấn đề lập pháp kinh tế, chánh trị, tài chánh, văn hoá, xã hội, thường rất phức tạp và nhiêu khê và chuyên môn.

Trong cái mớ bòng bòng các dự luật, nghị trình với nhiều vấn đề đa dạng đối với đại biểu nhân dân quá bận với công việc kiêm nhiệm ngoài quốc hội, Đảng qua văn phòng thường trực của cái gọi là Quốc Hội còn sử dụng những xảo thuật nghị trường. Không gởi tài liệu trước đủ thời gian để đại biểu nghiên cứu khi thảo luận. Thiếu thông tin về tình hình đất nước, nếu có tin đại đa số là tin của Đảng Nhà Nước dàn dựng vì 700 tờ báo trong nước chỉ cho 1 tổng biên tập là Đảng CS, 16,000 nhà báo chỉ có một ông chủ cũng là Đảng CS.

Nên khi thảo luận hay chất vấn đa số tỏ vẻ tự ti mặc cảm đối với nhân viên chánh phủ và đảng, kính kính, thưa thưa, cám ơn, cám đức, bào chữa cho Đảng, Chánh phủ như thần tử đối với long nhan.

Và từ đó Quốc hội trở thành Quốc hại trong chế độ CSVN, từ khi thành hình cho đến bây giờ. Nó phù họp với cái nhìn của những nhà độc tài toàn trị. Nhưng nó là một cơ quan ngoại vi, một thứ đảng cử dân bầu để hợp thức hoá, quần chúng hoá ý và lịnh của Đảng, một cánh tay làm lợi cho đảng độc tài, làm hại cho quốc gia dân tộc.

Vi Anh (VB)

Việt Báo Thứ Bảy, 6/27/2009, 12:00:00 AM

Giải thể Bạo Quyền Cộng Sản Việt Nam là hình thức sinh hoạt

June 27, 2009

Lời phi lộ:

“Quốc gia hưng vong, Thất phu hữu trách”. Chúng tôi nghiên mình khâm phục giới trí thức luật gia. Ít ra, đã có một số nhà luật sư tiêu biểu ngành luật, đã và đang hiên ngang anh dũng gióng lên tiếng nói bênh vực cho lẽ phải, cho công lý, và chống lại kẻ phản bội dân tộc. Họ đã không hổ thẹn với lương tâm. Hoan hô tinh thần giới trí thức luật khoa.

Nghe rồi nói mãi, rõ chán! Đã nói rồi vẫn chưa tin?

Lại thêm vụ bắt giam luật sư nữa. Luật sư Lê Trần Luật, người đấu tranh và bảo vệ Công lý cho các giáo dân xứ Thái Hà, bị cục A42, Công An CSVN, bắt giam (bắt cóc) vào thứ bảy, ngày 23/06/09, với tội danh: “Tuyên truyền chống lại nhà nước và đảng CSVN”.

Trước đó, ngày 13-06-09, tay sai bán nước Cộng Sản Việt Gian, đã ‘khẩn cấp’ bắt luật sư Lê Công Định, với lý do: ‘mưu đổ phản động’, ‘cấu kết tổ chức phản động lưu vong’…. Và tay nô tỳ vong nô Cộng sản Tổng cục An Ninh Vũ Hải Triều, kết án rằng: “tịch thu nhiều tài liệu, chứng cứ âm mưu lật đổ nhà nước Việt Nam.”

Có thật, những nhà đấu tranh cho công lý hoà bình, cho tự do dân chủ là thành phần phản động, cấu kết lưu vong, lật đổ bạo quyền Cộng sản Việt Nam???

Ai phản động? Lật đổ chính quyền là sao? Tại sao phải lật đổ? Chế độ này có cần phải lật đổ không? Kẻ nào phản bội tổ quốc và dân tộc? Ai làm nô lệ cho Hán Cộng? Ai đang bán nước hại dân?

Ai là phản động? Phản động là gì? Cần lật đổ chế độ Cộng sản, chế độ phản bội dân tộc?

Người Việt hải ngoại lưu vong là tập thể những người tị nạn cộng sản chống cộng. Và nếu nói theo danh từ Việt Cộng, thì họ là ‘thành phần phản động’. Phản động, là bày tỏ quan điểm khác chính kiến, qua lời nói và hành động. Bày tỏ quan điểm chính trị khác nhau là lối sinh hoạt chính trị rất ư là bình thường và tự nhiên tại các nước văn minh dân chủ tân tiến trên thế giới. Trong một nước văn minh dân chủ, thì phải biết tôn trọng ý kiến khác biệt của nhau. Ngay đến con cái trong một gia đình còn có những chiều hướng khác biệt: cha theo đạo Công Giáo, mẹ theo đạo Phật, con theo đạo Hồi, chị theo đường hướng đảng Xã Hội, em theo trường phái bảo thủ Cộng Hòa, cháu thuộc đảng hyppi Xanh… Vân vân và vân vân… Mọi khuynh hướng chính trị tôn giáo dù khác nhau, những họ vẫn chung sống vui vẻ thuận hòa dưới một mái nhà, vì mọi nguời biết tôn trọng dị kiến của nhau. Đó là sinh hoạt theo tinh thần dân chủ thực tiễn!

Danh từ ‘phản động’ chỉ có trong những nước độc tài chậm tiến hại dân bán nước như những anh cán ngố Cộng sản Việt Nam áp đặt để trấn áp những tiếng nói dân chủ chân chính.

Tất cả những ai yêu dân chủ đều là ‘phản động’!? Thế, những kẻ bảo vệ độc tài, yêu bất chính, bán nước phì thân, hại dân lành, thì họ là gì, là ai? Và phải gọi họ là gì? Phản bội dân tộc? Việt gian tay sai Hán Cộng? Kẻ rước voi dày mồ? Bè lũ cõng rắn cắn gà nhà? Phường bố láo? Lũ phản quốc? Bọn phản bội? Bọn côn đồ du đãng lưu manh???

Chính vì những dị biệt ngỗ nghịch như thế, tất cả những người yêu tự do, chuộng công lý và lẽ phải, phải quyết tâm thay đổi chế độ Cộng sản ma cô trấn áp người dân!

Hoá ra là như thế! Bất kỳ ai bị chụp mũ cho hai chữ ‘phản động’, là đã lãnh bản án tù tội, không cần xử án! Thật dễ dàng! Bắt người kết tội như tìm ốc bắt nhái! Thì ra là vậy!

Những nước văn minh dân chủ tân tiến trên thế giới, những người an cư lạc nghiệp tại các nước này, đều là phản động, dưới con mắt Cộng sản?! Nhưng, điều nghịch lý ở chỗ: Những người bị coi là ‘phản động’, chưa từng dâng một thước đất cho ngoại bang, chưa từng bao giờ làm tay sai cho thế lực phản động Tầu Cộng, chưa bào giờ họ bán đứng giang sơn cho ngoại bang. Những người bị ‘kết án’ là ‘phản động’, họ lại là những người yêu Chân Lý, ham thích Tự Do, yêu Tổ quốc và thương yêu đồng bào đích thực chân chính nhất.

Thế còn Việt Cộng? Họ là ai? Có phải, họ chính là kẻ phản động không? Chính họ là kẻ phản bội dân tộc?

Đích thị hắn! Chính những kẻ bán nước hại dân là những thành phần phản động, là những kẻ rước roi dày mồ. Chính Cộng sản cô hồn, những kẻ đàn áp người dân, trù dập những tiếng nói dân chủ, là thành phần phản bội quê hương và dân tộc. Họ chính là thành phần phản động cực kỳ nguy hiểm, vì họ đã và đang phá hủy môi trường sinh sống của người dân, và đưa cả dân tộc đến chỗ diệt vong.

Cộng sản đã làm gì cho dân tộc? Họ chỉ là phường bán nước hại dân! Làm tay sai Hán Cộng. Biến giang sơn lãnh thổ Việt Nam thành một tỉnh lỵ Trung Cộng.

Ai kêu gọi thay đổi chế độ Việt Gian Cộng Sản?

Chính việt gian Cộng sản tha thiết kêu gọi ‘thành phần phản động hải ngoại’ về nước phục vụ xây dựng lại quê hương. Kêu gọi đồng bào ở hải ngoại về phục vụ nhà nước, thì có nghĩa: đồng bào ở hải ngoại có quyền thay đổi guồng máy thể chế bất tài, tham nhũng và bán nước hại dân hiện nay. Xây dựng đất nước: cũng trong ý nghĩa là phải giải thể chế độ bạo quyền này mới lo xây dựng đất nước được. Muốn xây dựng đất nước, cần phải thay đổi chế độ cộng sản độc tài đảng trị! Đó là con đuờng tất yếu duy nhất để đưa đất nước hùng cường vững mạnh, độc lập dân chủ đích thực!

Đã mời ‘khúc ruột ngàn dặm’ về thăm quê hương, xây dựng đất nước, thì người dân trong nước cần gì phải cấu kết với tổ chức ‘phản động lưu vong’? Chính nhà nước việt gian Cộng sản đang mời họ về! Cần gì phải cấu kết!?

Các phần tử ‘phản động’ đang nằm đầy rẫy trong nước, nằm ngay trong quân đội công an, nằm ngay trong guồng máy nhà nước và nằm ngay cả trong ban Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam. Người ‘phản động’ là 83 triệu dân. Còn mấy trăm cán bộ nồng cốt Đảng Cộng Sản là thành phần phản dân hại nước chính hiệu! Vậy ai phải bắt ai? Ai phải lật đổ ai? Và ai mới chính là tội đồ dân tộc?

Tất cả mọi người, mọi giới cũng chỉ ‘bằng mặt’ với chế độ thối nát tay sai Hán Cộng, nhưng họ đâu có ‘bằng lòng’ với chế độ tham nhũng này!

Mỗi cuộc bầu cử là hình thức thay đổi chính quyền. Nhà nước Cộng sản Việt Nam, mỗi khi mùa bầu cử gần tới, đều rên rỉ kêu gọi đồng bào đi bầu. Đi bầu, là thể hiện ý muốn thay đổi chính quyền. Chính vì nhà nước Việt Nam, một nhà nước được gọi là nhà nước xã hội, nhưng có những điều cực kỳ dị nghịch, nên cần thay đổi chính sách và guồng máy. Bởi vì, điều 4, trong cái gọi là Hiến Pháp xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam, đã quy định đảng Cộng sản độc tôn, độc quyền lãnh đạo. Điều này có bố lếu bố láo không? Hiến Pháp gì mà chỉ áp dụng cho riêng đảng Cộng sản? Vì thế, chúng ta cần phải đi bầu để thay đổi cái chế độ trơ trẽn này. Thay vì, bầu bằng lá phiếu không được, thì chúng ta phải đi bầu bằng chân. Kiểu đi bầu bằng chân, cũng là hình thức thay đổi một chính thể. Đi bầu bằng chân là hình thức bỏ phiếu thay đổi một chính thể bạo quyền bất chính như hiện nay.

Kiểu đi bầu từ trước đến nay của Cộng sản, chỉ là hình thức ‘đi bầu đánh bùn sang ao’: Cộng vẫn Cộng! Tham nhũng vẫn hoàn tham nhũng! Độc tài vẫn ngự trị trên quê hương! Vì điều 4 ghi định, đảng Cộng sản Việt nam ‘độc quyền’ lãnh đạo, đồng nghĩa với: độc quyền bán nước, độc quyền hại dân, độc quyền tham nhũng. Chỉ thay người, nhưng không thay bản chất ‘đạo đức cách mạng Cộng sản’: cướp phá, bạo lực, xảo trá gian manh, tham nhũng, bán nước cầu vinh, tạo hận hù, gầy ra cảnh nồi da xáo thịt…

Chính vì chế độ Cộng sản có qúa nhiều những điều dị nghị, nên cần phải lật đổ là đúng nghĩa, đúng danh, đúng luật! Chẳng có quốc gia văn minh tân tiến nào trên thế giới, có kiểu loại ‘Hiến Pháp’ duy trì độc đảng cầm quyền, rồi rêu rao kêu gọi người dân đi bầu!? Hình thức bầu bán kiểu này, có qúa điểu cáng, nham nhiểm và nghịch lý không?

Kêu gọi người dân đi bầu thay đổi chính quyền, thì điều 4, trong cái gọi là Hiến pháp nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đã chọn rồi. Vậy, đi bầu có qúa trơ trẽn lắm không? Đi bầu ở Việt Nam có qúa ngỗ nghịch lắm không? Chính vì nghịch nhĩ, nên phải lật đổ chế độ này cho đúng pháp danh, cho hợp với thời đại văn minh tân tiến nhân loại và hợp lòng dân!

Có nguồn tin cho biết, Nguyễn Minh Triết, muốn là một Yelsin cho Việt Nam. Nhưng có lẽ, vì nay sức trẻ không còn, thế đã yếu, lực đã mai mòn, nên đi đâu, Triết cũng than vãn lo âu, cảnh cáo sự mau chóng sẽ sụp đổ của chế độ. Có lẽ, Triết không muốn lộ tẩy ước vọng của mình, nên phải biểu lộ nỗi u sầu âu lo của mình, hầu nhằm che dấu mục đích mình chăng? Chúng ta thấy, không một chủ tịch nhà nước Cộng sản nào từ trước đến nay, lo xa và lo ra như Triết hiện nay. Việc lo ra của Triết cũng có lý do chính đáng của nó, vì chế độ này khó tồn tại lâu được. Nó không đáp đúng nguyện vọng của toàn dân và không hợp với trào lưu văn hóa văn minh thế giới. Chúng ta nghe Triết phát biểu:

Trước sỹ quan chính trị, Nguyễn Minh Triết la hoảng: “Bỏ điều 4 Hiến Pháp là tự sát”.

Trong chuyến thăm Hoa Kỳ vào tháng 6 năm 2007, trước đại diện truyền thông trong nước, Triết lại nhấn mạnh sự lo ngại sự thành hình đảng phái trong nước. Triết sợ “lập đảng này đây khác, lên kế hoạch, lật đổ chế độ”.

Trong chuyến thăm hai ngày, từ 10-12 tại New Zealand, tháng 9 năm 2007, Nguyễn Minh Triết lại cảnh cáo sẽ đem ra trước phát luật những “ai đó muốn lật đổ chế độ này”.

Mới đây, hôm 17-06-09, tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Học Viện Ngoại Giao, Nguyễn Minh Triết lo ngại và “cảnh giác với cách mạng mầu”, để lật đổ chế độ Hà Nội.

Kết luận

Xin cần ghi nhớ: Lật đổ tay sai Hán Tầu Cộng Sản Việt Nam, là bổn phận và trách nhiệm của mọi Công dân Việt Nam trưởng thành, 18 tuổi trở lên, không phần biệt già trẻ trai giái. Thay đổi guồng máy hiện nay trong nước, cũng là trách nhiệm lương tâm của những người con Việt tha hương, nếu họ còn ưu tư và quan tâm đến giòng sinh mệnh quốc gia dân tộc.

Thay đổi một chính thể, là cách sinh hoạt chính trị văn minh dân chủ rất bình thường! Thể chế bất nhân, bất nghĩa, bất chánh đạo này có cần lật đổ không? Thưa, cần qúa đi chứ! Vì chế độ này là chế độ hại dân hại nước, bán đất dâng biển cho Tầu Cộng. Chế độ này đã và đang biến dân tộc Việt Nam thành một tỉnh lỵ của Trung Cộng.

Giải thể bạo quyền bất chính, hay giải thể chế độ Cộng Sản, là cách thức bày tỏ lập trường chính trị trưởng thành của người công dân, nhằm thăng tiến xã hội và con người. “Giải thể chế độ Cộng Sản, con đường pháp triển tất yếu của Việt Nam” (Bài xã luận của Lm. Phêrô Nguyễn Hữu Giải; Lm Phêrô Phan Văn Lợi; 29-04-2006).

Chẳng có Pháp luật dân chủ văn minh nào cấm đoán người công dân không được phép thay đổi một chính quyền. Nếu ‘Hiến Pháp’ của nước nào có điều khoản cấm ‘lật đổ chế độ’, thì chế độ đó là một chế độ gian manh, bất lương, lường đảo rõ ràng nhất. Một chế độ thối tha, một chế độ mỵ dân, một chế độ xảo trá như thế cần phải lật đổ ngay lập tức!!!

Thay đổi cơ chế tham nhũng bất tài, bất công hiện này là điều bắt buộc phải làm, nên làm và cần thiết cấp bách. Nói như kiểu người Cộng sản: Lật đổ chế độ độc tài đảng trị bất nhân là phải ‘khẩn trương’. Và chế độ Cộng sản phải sụp đổ là điều tất yếu!

(Đức quốc: Lễ kính ngày sinh nhật Thánh Gioan Tiền Hô, đấng làm chứng nhân cho Công lý lẽ phải. Thánh Nhân đấu tranh cho sự thật, ngài là quan thầy cho các nhà Luật sư: 24-06-2009)

Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh

Nguồn: báo Tổ quốc
Tháng Sáu 26, 2009

Điều 88 là “phản ánh ý chí và nguyện vọng của nhân dân” ?

June 27, 2009

Cuối tuần qua, trong 1 thông cáo mới đăng trên trang mạng của bộ Ngoại giao Việt nam ngày 19 tháng 6, ông Lê Dũng, người phát ngôn của bộ ngoại giao Việt Nam, đã nói bộ luật hình sự của Việt nam, trong đó có Điều luật 88, là “phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân”.

Chúng tôi hỏi ý kiến của luật sư Lê Trần Luật về câu tuyên bố nầy và ông đã cho biết:

Điều 88 là một Điều luật bí mật tối kỵ, cấm nói?

“Tôi không nghĩ Điều 88 trong bộ luật hình sự là ý chí và nguyện vọng của nhân dân, mà tôi phải nói rằng; đây là ý chí và mong muốn của nhà cầm quyền, bởi lẽ trong một xã hội phát triển thì người dân càng lúc càng mong muốn bày tỏ chính kiến của mình, và không một người dân nào muốn khi mình bày tỏ chính kiến lại bị bắt ở tội danh vi phạm Điều 88.

Mặt khác cơ chế làm luật ở Việt nam thật sự là hạn chế các nguyện vọng của người dân vì đa số đại biểu quốc hội là người của đảng cộng sản.

Tôi cũng cần nói thêm rằng Việt nam là một trong số ít những quốc gia còn tồn tại cái điều luật tuyên truyền chống nhà nước.

Thêm vào đó phải nói rằng Điều 88 là một điều luật hết sức là khó hiểu. Vì vậy tôi nghĩ rằng ông Lê Dũng nói Điều 88 là “ý chí và nguyện vọng của dân” là một cách nói nguỵ biện thôi.

Tôi cũng tin rằng bản thân ông chưa chắc đã phân biệt được như thế nào là quyền bày tỏ chính kiến và như thế nào là nhằm mục đích chống lại xã hội chủ nghĩa Việt nam”

Hiền Vy: Luât sư vừa nói điều 88 là điều luật khó hiểu, ông có thể cho biết thêm, về ý kiến này không ạ?

Ls Lê Trần Luật: Tôi suy nghĩ về Điều luật này rất nhiều. Tôi đã cố gắng tìm hiểu về lý luận cũng như thực tiễn. Có một lần, bào chữa cho một thân chủ vi phạm điều luật này, tôi đã cố gắng tìm kiếm các tài liệu của những nhà nghiên cứu, những luật gia.

Tôi đã bất ngờ là tôi không tìm thấy một tài liệu nào nói về Điều 88 này hết. Tôi đem những suy nghĩ của mình để hỏi một người bạn là Thẩm phán ở tòa án tối cao thì anh thẩm phán đó bảo rằng, chẳng có tài liệu nào nói về điều này hết, đừng có tìm kiếm vô ích.

Tôi mới hỏi lại là; tòa án Việt nam đã xử rất nhiều người, nhiều trường hợp vi phạm điều luật này, như vậy thì có văn bản nào hướng dẫn hay là tổng kết về thực tiễn xét xử tội danh này không, thì anh ấy trả lời là không bao giờ có và anh ấy nói với tôi rằng “Điều 88 là một Điều luật tối kỵ, cấm nói”.

Tôi quyết định đem những gì mình suy nghĩ và thắc mắc để tranh luận với Viện Kiểm Sát.
Thì trong cuộc tranh luận với một vị ở viện Kiểm sát tối cao thì vị này cũng đồng ý với tôi là Điều 88 là một Điều luật khó hiểu nhưng ông ta từ chối tranh luận vì ông ta cho rằng chuyện khó hiểu hay không khó hiểu thì chỉ có Quốc hội hay Tòa án tối cao giải thích, chứ bản thân ông ta không thể biết điều này.

Điều 88 là miếng vải the giữa bày tỏ chính kiến và tội chống nhà nước

Hiền Vy: Trong những năm vừa qua, rất nhiều người tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân quyền tại VN bị bắt, với lý do là vi phạm Điều 88. Thưa, là một luật sư, đã từng biện hộ cho những người, bị qui tội là vi phạm điều này. Xin luật sư cho biết sự “nguy hiểm” của điều luật này, đối với những người chỉ tranh đấu bất bạo động.

Ls Lê Trần Luật: Sự nguy hiểm của điều luật này nằm ở cái ranh giới về quyền bày tỏ chính kiến của mình và mục đích chống lại nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam. Tôi không tìm thấy tài liệu hoặc văn bản nào xác định rõ cái ranh giới này. Tất cả phụ thuộc vào ý chí của nhà cầm quyền.

Tôi nghĩ, bất cứ nhà đấu tranh dân chủ nào cũng có thể bị bắt vì điều luật này, nếu nhà cầm quyền muốn. Và thực tế đã có rất nhiều nhà đấu tranh dân chủ bị cầm tù, chứng minh cho nhận định này của tôi.

Hiền Vy: Trong thông cáo của bộ ngoại giao, có đoạn Mọi công dân đều có quyền bày tỏ chính kiến của mình song quyền này phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không xâm phạm đến lợi ích của người khác và lợi ích quốc gia. Thưa luật sư, Chính Kiến này, được hiểu ra sao? Có phải là Quan điểm Chính tri của mỗi Công dân không ? Và làm sao tòa án đo lường một ‘chính kiến’ có lợi hay hai cho người khác và cho quốc gia để định tội một bi cáo?

Ls Lê Trần Luật: Tại Việt nam, người dân gần như không thể bày tỏ được chứng kiến của mình vì khi bày tỏ chính kiến của mình thì bất kỳ lúc nào họ cũng có thể là nạn nhân của Điều 88 này.

Chừng nào còn Điều 88 của bộ luật hình sự Việt nam thì chừng đó chưa thể nói là người dân Việt nam có quyền bày tỏ chính kiến.

Còn việc đo lường một chính kiến có lợi hay có hại hoặc là đo lường chính kiến có chống hay không, thì thông thường Tòa án Việt nam dựa vào kết quả giám định của sở Văn hóa thông tin để khẳng định rằng các tài liệu, các câu nói, các bài viết là phản động, là chống lại nhà nước và Tòa án dựa vào kết qủa giám định đó để kết luận một người có hành vi tuyên truyền.

Tôi cho rằng điều này hết sức vô lý, rất tùy tiện và thiếu khách quan, bởi lẽ, sở văn hóa thông tin chính là một cơ quan trong bộ máy nhà nước Việt nam.

Hiền Vy:
Thưa luật sư, Trong các cuộc bắt bớ những người không cùng quan điểm với nhà nước, Tại sao chưa có phiên tòa xử, mà báo đài trong nước đã đưa tin là những người bị bắt đã vi phạm điều 88 của bộ luật hình sự VN?

Ls Lê Trần Luật: Báo đài và truyền thông Việt nam nói chung, chủ yếu họ thực hiện nhiệm vụ chính trị chứ không phải là thực hiện nhiệm vụ đưa tin. Do vậy mà mặc dù chưa có phán quyết của Toà, họ cứ vô tư đưa tin rằng người này, người kia là vi phạm pháp luật.

Và cái việc đưa tin đó chủ yếu là họ phải hoàn thành nhiệm vụ chính trị của họ. Tôi không ngạc nhiên khi họ cứ vô tư đưa tin về những người, mặc dù chưa có phán quyết của tòa, là phạm tội.

Hiền Vy:
Các nhà bình luận cho rằng rất khó có thể trình bày ý kiến đối lập, mà không vi phạm Điều 88 này, nếu ý kiến đối lập, nghiêng về quan điểm xây dựng một nhà nước khác hẳn hiện nay, ngay cả thông qua hình thức ôn hòa. Luật sư có ý kiến như thế nào về lời binh luận này ạ?

Ls Lê Trần Luật: Các nhà bình luận viết như thế là rất chính xác. Bản thân tôi và một số đồng nghiệp, khi trình bày quan điểm của mình cho thân chủ tại Tòa, chắc chắn là chúng tôi đã được tòa án cho phép để trình bày quan điểm của mình nhưng chúng tôi vẫn bị qui kết là lợi dụng phiên tòa để tuyên truyền chống nhà nước. Như vậy thì thử hỏi một người dân bình thường làm sao mà có thể gọi là trình bày chính kiến đối lập của mình được.

Hiền Vy: Thưa, việc luật sư Lê Công Định bị bắt và gần đây đã “nhận tội”, luật sư nghĩ thế nào về việc đó ạ?

Ls Lê Trần Luật: Cho đến lúc này tôi vẫn tin rằng luật sư Lê Công Định không phạm tội Điều 88. Còn việc luật sư Lê Công Định có nhận tôi hay không thì tôi không biết và cho phép tôi từ chối bình luận về chuyện này. Tôi chỉ mong rằng mọi người và dư luận hãy quan tâm che chở và bảo vệ cho anh ấy trong một giai đoạn khó khăn như lúc này.

Hiền Vy: Vâng, xin cảm ơn luật sư Lê Trần Luật.

Hiền Vy, thông tín viên RFA
2009-06-24

Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.

4 tội phản bội Tổ Quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam

June 27, 2009

4 tội phản bội Tổ Quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam

“… Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, đế quốc Bắc Kinh buộc Hà Nội hiến dâng toàn thể hải phận Việt Nam từ Vịnh Bắc Việt đến vùng biển Hoàng Sa Trường Sa …”

– Năm 1999 Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Biên Giới Việt Trung để nhượng đất biên giới cho Trung Quốc.

– Năm 2000, Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ để bán nước Biển Đông cho Trung Quốc.

– Cũng trong năm này Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá để dâng cá dâng dầu cho Trung Quốc.

– Và năm 1958, bằng văn thư của Phạm Văn Đồng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đồng ý chuyển nhượng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.

Những hành vi này cấu thành 4 tội phản bội tổ quốc bằng cách “cấu kết với nước ngoài nhằm xâm phạm chủ quyền của quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc và xâm phạm quyền của quốc dân được sử dụng đầy đủ những tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của đất nước.”

I. TỘI NHƯỢNG ĐẤT BIÊN GIỚI CHO NƯỚC NGOÀI

Năm 1949, sau khi thôn tính lục địa Trung Hoa, mục tiêu chiến lược của Quốc Tế Cộng Sản là nhuộm đỏ hai bán đảo Đông Dương và Triều Tiên.

Qua năm sau, 1950, với sự yểm trợ của các chiến xa Liên Xô và đại pháoTrung Quốc, Bắc Hàn kéo quân xâm lăng Nam Hàn. Mục đích để giành yếu tố bất ngờ. Tuy nhiên âm mưu thôn tính không thành do sự phản kích của quân lực Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc.

Từ 1951 cuộc chiến bất phân thắng bại đưa đến hòa đàm. Hai năm sau Chiến Tranh Triều Tiên kết thúc bởi Hiệp Định Đình Chiến Bàn Môn Điếm tháng 7, 1953.

Thất bại trong chiến tranh Triều Tiên, Trung Cộng tập trung hỏa lực và kéo các đại pháo từ mặt trận Bắc Hàn xuống mặt trận Bắc Việt.

Để tiếp tế võ khí, quân trang, quân dụng, cung cấp cố vấn và cán bộ huấn luyện cho Bắc Việt, các xe vận tải và xe lửa Trung Cộng đã chạy sâu vào nội địa Việt Nam để lập các căn cứ chỉ huy, trung tâm huấn luyện, tiếp viện và chôn giấu võ khí. Thừa dịp này một số dân công và sắc dân thiểu số Trung Quốc kéo sang Việt Nam định cư lập bản bất hợp pháp để lấn chiếm đất đai.

Trong Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai khởi sự từ 1956, với các chiến dịch Tổng Công Kích, Tổng Khởi Nghĩa Tết Mậu Thân (1968) và Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), Bắc Việt huy động toàn bộ các sư đoàn chính quy vào chiến trường Miền Nam. Thời gian này để bảo vệ an ninh quốc ngoại chống sự phản kích của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ (như trong Chiến Tranh Triều Tiên), Bắc Việt nhờ 300 ngàn binh sĩ Trung Quốc mặc quân phục Việt Nam đến trú đóng tại 6 tỉnh biên giới Bắc Việt. Trong dịp này các binh sĩ, dân công và sắc dân thiểu số Trung Hoa đã di chuyển những cột ranh mốc về phía nam dọc theo lằn biên giới để lấn chiếm đất đai.

Trong Chiến Tranh Đông Dương Thứ Ba khởi sự từ 1979, để giành giật ngôi vị bá quyền, Trung Quốc đem quân tàn phá 6 tỉnh biên giới Bắc Việt. Và khi rút lui đã gài mìn tại nhiều khu vực rộng tới vài chục cây số vuông để lấn chiếm đất đai.

Ngày nay, dưới áp lực của Bắc Kinh, Hà Nội xin hợp thức hóa tình trạng đã rồi, nói là thể theo lời yêu cầu của các sắc dân thiểu số Trung Hoa đã định cư lập bản tại Việt Nam.

Năm 1999 họ đã ký Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung để nhượng cho Trung Quốc khoảng 800 km2 dọc theo lằn biên giới, trong đó có các quặng mỏ và các địa danh như Ải Nam Quan, Suối Phi Khanh tại Lạng Sơn và Thác Bản Giốc tại Cao Bằng…

II. TỘI BÁN BIỂN ĐÔNG CHO NƯỚC NGOÀI

Kinh nghiệm cho biết các quốc gia láng giềng chỉ ký hiệp ước phân định lãnh thổ hay lãnh hải sau khi có chiến tranh võ trang, xung đột biên giới hay tranh chấp hải phận.

Trong cuốn Biên Thùy Việt Nam (Les Frontières du Vietnam), sử gia Pierre Bernard Lafont có viết bài “Ranh Giới Hải Phận của Việt Nam” (La Frontière Maritime du Vietnam). Theo tác giả, năm 1887, Việt Nam và Trung Hoa đã ký Hiệp Ước Bắc Kinh để phân chia hải phận Vịnh Bắc Việt theo đường kinh tuyến 108 Đông, chạy từ Trà Cổ Móng Cáy xuống vùng Cửa Vịnh (Quảng Bình, Quảng Trị). Đó là đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa tại Vịnh Bắc Việt. Vì đã có sự phân định Vịnh Bắc Việt theo Hiệp Ước Bắc Kinh, nên “từ đó hai bên không cần ký kết một hiệp ước nào khác.” Do những yếu tố địa lý đặc thù về mật độ dân số, số hải đảo, và chiều dài bờ biểnViệt Nam được 63% và Trung Hoa được 37% hải phận.

Năm 2000, mặc dầu không có chiến tranh võ trang, không có xung đột hải phận, bỗng dưng vô cớ, phe Cộng Sản đã ký Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh 1887.

Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ là một hiệp ước bất công, vi phạm pháp lý và vi phạm đạo lý.

Bất công và vi phạm pháp lý vì nó không tuân theo những tiêu chuẩn của Tòa Án Quốc Tế, theo đó sự phân ranh hải phận phải căn cứ vào các yếu tố địa lý, như số các hải đảo, mật độ dân số và chiều dài bờ biển. Ngày nay dân số Bắc Việt đông gấp 6 lần dân số đảo Hải Nam, và bờ biển Bắc Việt dài gấp 3 lần bờ đảo Hải Nam phía đối diện Việt Nam. Ngoài ra Việt Nam có hàng ngàn hòn đảo trong khi Hải Nam chỉ có 5 hay 6 hòn. Tại miền bờ biển hễ đã có đất thì phải có nước; có nhiều đất hơn thì được nhiều nước hơn; có nhiều dân hơn thì cần nhiều nước hơn. Vì vậy hải phận Việt Nam phải lớn hơn hải phận Trung Hoa (63% và 37% theo Hiệp Ước Bắc Kinh). Và cũng vì vậy vùng biển này có tên là Vịnh Bắc Việt.

Ngày nay phe Cộng Sản viện dẫn đường trung tuyến để phân ranh hải phận với tỉ lệ lý thuyết 53% cho Việt Nam. Như vậy Việt Nam đã mất ít nhất 10% hải phận, khoảng 12,000 km2. Tuy nhiên trên thực tế phe Cộng Sản đã không áp dụng nghiêm chỉnh đường trung tuyến. Họ đưa ra 21 điểm tiêu chuẩn phân định Vịnh Bắc Việt theo đó Việt Nam chỉ còn 45% hải phận so với 55% của Trung Quốc. Và Việt Nam đã mất 21,000 km2.

Bất công hơn nữa là vì nó không căn cứ vào những điều kiện đặc thù để phân định Vịnh Bắc Việt. Tại vĩ tuyến 20 (Ninh Bình, Thanh Hóa), biển rộng chừng 170 hải lý, theo đường trung tuyến Việt Nam được 85 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí (thay vì 200 hải lý theo Công Ước về Luật Biển). Trong khi đó, ngoài 85 hải lý về phía tây, đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý về phía đông thông sang Thái Bình Dương. Theo án lệ của Tòa Án Quốc Tế, hải đảo không thể đồng hóa hay được coi trọng như lục địa. Vậy mà với số dân chừng 7 triệu người, đảo Hải Nam, một tỉnh nhỏ nhất của Trung Quốc, đã được hưởng 285 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí. Trong khi đó 42 triệu dân Bắc Việt chỉ được 85 hải lý. Đây rõ rệt là bất công quá đáng. Bị án ngữ bởi một hải đảo (Hải Nam) người dân Bắc Việt bỗng dưng mất đi 115 hải lý vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá và thềm lục địa để khai thác dầu khí. .

Hơn nữa, Hiệp Ước này còn vi phạm đạo lý vì nó đi trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền như Công Lý, Bình Đẳng, Hữu Nghị, không cưỡng ép, không thôn tính và không lấn chiếm.

III. TỘI DÂNG CÁC TÀI NGUYÊN VÀ NGUỒN LỢI THIÊN NHIÊN CHO NƯỚC NGOÀI

Cùng ngày với Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ, Đảng Cộng Sản Việt Nam còn ký Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá.

Ngày 15-6-2004, Quốc Hội phê chuẩn Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, trái với Điều 84 Hiến Pháp, Hiệp Ước Đánh Cá không được Quồc Hội phê chuẩn, chỉ được Chính Phủ “phê duyệt”.

Theo Hiệp Ước sau này, hai bên sẽ thiết lập một vùng đánh cá chung rộng 60 hải lý, mỗi bên 30 hải lý, từ đường trung tuyến biển sâu nhiều cá, khởi sự từ vĩ tuyến 20 (Ninh Bình, Thanh Hóa) đến vùng Cửa Vịnh tại vĩ tuyến 17 (Quảng Bình, Quảng Trị).

Tại Quảng Bình biển rộng chừng 120 hải lý, theo đường trung tuyến Việt Nam được 60 hải lý. Trừ 30 hải lý cho vùng đánh cá chung, ngư dân chỉ còn 30 hải lý gần bờ. Trong khi đó Hải Nam được 290 hải lý để đánh cá.

Tại Ninh Bình, Thanh Hóa, biển rộng chừng 170 hải lý, theo đường trung tuyến, Việt Nam được 85 hải lý. Trừ 30 hải lý cho vùng đánh cá chung, ngư dân chỉ còn 55 hải lý gần bờ. Trong khi đó Hải Nam được 315 hải lý.

Hơn nữa, theo nguyên tắc hùn hiệp, căn cứ vào số vốn, số tàu, số chuyên viên kỹ thuật gia và ngư dân chuyên nghiệp, Trung Quốc sẽ là chủ nhân ông được toàn quyền đánh cá ở cả hai vùng, vùng đánh cá chung và vùng hải phận Trung Hoa.

Ngày nay Trung Quốc là quốc gia ngư nghiệp phát triển nhất thế giới. Trên mặt đại dương, trong số 10 tàu đánh cá xuyên dương trọng tải trên 100 tấn, ít nhất có 4 tàu mang hiệu kỳ Trung Quốc. Như vậy trong cuộc hợp tác đánh cá với Trung Quốc, Việt Nam chỉ là cá rô, cá riếc sánh với cá mập, cá kình:

a) Trong số 17 quốc gia ngư nghiệp phát triển trên thế giới có tàu đánh cá lớn trọng tải trên 100 tấn, một mình Trung Quốc chiếm hơn 40 % số tàu, so với 5% của Hoa Kỳ, 3% của Nhật Bản và 2% của Đại Hàn, (Việt Nam không có mặt trong số 17 quốc gia này).

b) Các tàu đánh cá lớn này có trang bị các lưới cá dài với tầm hoạt động 60 dặm hay 50 hải lý. Do đó đoàn ngư thuyền Trung Quốc không cần ra khỏi khu vực đánh cá chung cũng vẫn có thể chăng lưới về phía tây sát bờ biển Việt Nam để đánh bắt hết tôm cá, hải sản, từ Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tới Quảng Bình, Quảng Trị. Chăng lưới đánh cá tại khu vực Việt Nam là vi phạm hiệp ước. Tuy nhiên các đội tuần cảnh duyên hải Việt Nam sẽ ngoảnh mặt làm ngơ. Là cơ quan kinh tài của Đảng, họ sẽ triệt để thi hành chính sách thực dụng làm giàu với bất cứ giá nào, kể cả bằng sự cấu kết với ngoại bang vi phạm luật pháp và hiệp ước.

Trong cuộc hùn hiệp hợp tác này không có bình đẳng và đồng đẳng. Việt Nam chỉ là kẻ đánh ké, môi giới mại bản, giúp cho Trung Quốc mặc sức vơ vét tôm cá hải sản Biển Đông, để xin hoa hồng (giỏi lắm là 10%, vì Trung Quốc có 100% tàu, 100% lưới và 95% công nhân viên).

c) Rồi đây Trung Quốc sẽ công nhiên vi phạm Hiệp Ước Hợp Tác Đánh Cá cũng như họ đã thường xuyên vi phạm Công Ước về Luật Biển. Chiếu Công Ước này các quốc gia duyên hải có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý để đánh cá. Nhưng cũng có nghĩa vụ phải bảo toàn và dinh dưỡng ngư sinh để dành hải sản cho biển cả và các thế hệ tương lai. Trung Quốc đã trắng trợn và thường xuyên vi phạm Công Ước về Luật Biển trong chính sách “tận thâu, vét sạch và cạn tàu ráo máng” áp dụng từ thời Đặng Tiểu Bình. Đó là chính sách thực dụng mèo đen mèo trắng, làm giàu là vinh quang, làm giàu với bất cứ giá nào.

Từ hơn 1/4 thế kỷ theo kinh tế thị trường, với sự phát triển công kỹ nghệ, thương mại, đánh cá và khai thác dầu khí, ngày nay tại vùng duyên hải Trung Hoa, các tài nguyên, hải sản và nguồn lợi thiên nhiên như tôm cá, dầu khí đã cạn kiệt. Trong khi đó nhu cầu canh tân kỹ nghệ hóa và nạn nhân mãn (của 1 tỉ 380 triệu người) đòi hỏi Trung Quốc phải mở rộng khu vực đánh cá và khai thác dầu khí xuống Miền Nam.

d) Với hơn 25 năm kinh nghiệm trong nghề cá, Trung Quốc đã huấn luyện được một đội ngũ công nhân viên đông đảo gồm các kỹ thuật gia, chuyên viên điện tử, và ngư dân có tay nghề. Trong khi đó về phía Việt Nam chỉ có một số công nhân không chuyên môn để sai phái trong các công tác tạp dịch hay công tác vệ sinh như rửa cá, rửa tàu v…v… Và rồi đây, bên cạnh các lao động nô lệ xuất khẩu tại Đông Nam Á , chúng ta sẽ có thêm một số lao động nô lệ tại Biển Đông trên các tàu đánh cá xuyên dương Trung Quốc.

IV. TỘI CHUYỂN NHƯỢNG CÁC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA TRƯỜNG SA CHO NƯỚC NGOÀI

Với đà này Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ nhượng nốt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng. Họ đã nhiều lần công bố ý định này:

1.- Ngày 15-6-1956, ngoại trưởng Ung Văn Khiêm minh thị tuyên bố: “Hà Nội nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa”.

2.- Ngày 14-9-1958 qua lời Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước, xác nhận chủ quyền hải phận của Trung Quốc tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3.- Để biện minh cho lập trường của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, sau khi Trung Cộng tiến chiếm Trường Sa hồi tháng 3-1988, báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của Đảng Cộng Sản trong số ra ngày 26-4-1988 đã viết: “Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng 2 quần đảo nói trên”. Đây chỉ là lời ngụy biện. Vì tại Thái Bình Dương, Hoa Kỳ có Đệ Thất Hạm Đội nên không cần đến các hải đảo Trường Sa và Hoàng Sa để làm căn cứ xuất phát hay địa điểm chỉ huy.”

4.- Và hồi tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực đầu năm 1974, đã viết: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi.”

Từ 1956, mục tiêu chiến lược của Đảng Cộng Sản Việt Nam là “giải phóng Miền Nam” bằng võ lực. Để chống lại Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và Đồng Minh, Hà Nội hoàn toàn trông cậy vào sự cưu mang nhiệt tình của người thầy phương Bắc. Vì sau cái chết của Stalin năm 1953, Lien Xô chủ trương chung sống hòa bình với Tây Phương, trong khi Mao Trạch Đông vẫn tuyên bố “sẽ giải phóng một ngàn triệu con người Á Châu khỏi ách Đế Quốc Tư Bản.”

Mà muốn được cưu mang phải cam kết đền ơn trả nghĩa. Ngày 14-9-1958, qua Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước cam kết chuyển nhượng cho Trung Quốc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Qua năm 1959, Đảng Cộng Sản phát động chiến tranh Giải Phóng Miền Nam.

Có 3 lý do được viện dẫn trong cam kết này:

a) Vì Hoàng Sa, Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-7 (Quảng Trị-Cà Mau) nên thuộc hải phận Việt Nam Cộng Hòa. Đối với Hà Nội nhượng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc trong thời điểm này chỉ là bán da gấu! (không phải tài sản của mình).

b) Sau này do những tình cờ lịch sử, nếu Bắc Việt thôn tính được Miền Nam thì mấy hòn đảo san hô tại Biển Đông đâu có ăn nhằm gì so với toàn thể lãnh thổ Việt Nam?

c) Giả sử cuộc “giải phóng Miền Nam” không thành, thì việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa Trường Sa thuộc lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa cũng có tác dụng làm suy yếu phe quốc gia về kinh tế, chính trị, chiến lược và an ninh quốc phòng.

KẾ HOẠCH THÔN TÍNH BIỂN ĐÔNG CỦA TRUNG CỘNG

Năm 1982, với tư cách ngũ cường thuộc Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết, Trung Cộng hoan hỷ ký Công Ước về Luật Biển. Ký xong Công Ước, Bắc Kinh mới thấy lo! Theo Công Ước các quốc gia duyên hải chỉ có 200 hải lý, vừa là vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá, vừa là thềm lục địa để khai thác dầu khí. Trong khi đó Hoàng Sa tọa lạc ngoài lục địa Trung Hoa 270 hải lý, và Trường Sa cách Hoa Lục 750 hải lý, nên không thuộc hải phận (thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế đánh cá) của Trung Quốc.

Vì vậy, cuối năm 1982, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả Trung Hoa ngày đêm nghiên cứu thảo luận ròng rã trong suốt 10 năm, để kết luận rằng “Nam Hải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ thời Hán Vũ Đế.”

Đây là thái độ trịch thượng võ đoán của phe đế quốc, cũng như Đế Quốc La Mã thời xưa coi Địa Trung Hải là “biển lịch sử của chúng tôi!”

Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát bờ biển, cách Quảng Ngãi 40 hải lý, cách Nam Dương 30 hải lý, cách Mã Lai và Phi Luật Tân 25 hải lý. Nó bao gồm toàn thể vùng biển Hoàng Sa Trường Sa và chiếm trọn 3 túi dầu khí đang khai thác là Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Natuna của Nam Dương và Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân.

Tuy nhiên về mặt pháp lý, nếu Ấn Độ Dương không phải là đại dương của Ấn Độ, thì Nam Hải cũng không phải là biển của Trung Hoa về phía Nam.

Vả lại theo Tòa Án Quốc Tế La Haye, biển lịch sử chỉ là nội hải. Hơn nữa Thuyết Biển Lịch Sử của Trung Quốc cũng bị Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển bác bỏ trong Điều 8: “Biển lịch sử hay nội hải của một quốc gia tọa lạc trong lục địa hay đất liền, bên trong bờ biển hay đường căn bản” (đường căn bản là lằn mực thủy triều xuống thấp).

Do đó Biển Nam Hoa hay Nam Hải không phải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc vì nó là ngoại hải và cách lục địa Trung Hoa hơn 2000 cây số.

Và công trình 10 năm nghiên cứu của 400 học giả Trung Hoa chỉ là công “dã tràng xe cát Biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”!

Thất bại trong thuyết Biển Lịch Sử, Trung Cộng đề ra kế hoạch 4 bước để xâm chiếm Biển Đông về kinh tế:

1.- Ký kết Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ năm 2000 để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh 1887 (theo đó Việt Nam được 63% và Trung Hoa được 37%. Nếu theo đường trung tuyến, hai bên được chia đều 50%. Tuy nhiên trên thực tế, Trung Cộng không theo đường trung tuyến và đã đề ra 21 điểm tiêu chuẩn phân định theo đó Việt Nam chỉ còn 45% so với 55% của Trung Hoa.

2.- Ký kết Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá năm 2000 để thiết lập Vùng Đánh Cá Chung 60 hải lý. Và Việt Nam chỉ còn 25% tại vĩ tuyến 17, và 32% tại vĩ tuyến 20. Với các tàu đánh cá viễn duyên, với các lưới cá dài 50 hải lý, và nhất là với sự cấu kết đồng lõa của đội tuần cảnh duyên hải Việt Nam, toàn thể Vịnh Bắc Việt sẽ biến thành khu đánh cá tự do cho đội kình ngư Trung Quốc mặc sức tận thu, vét sạch, và cạn tàu ráo máng.

3.- Từ đánh cá chung đến hợp tác khai thác dầu khí chỉ còn một bước. Trong Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt có điều khoản quy định rằng, khi dầu khí được phát hiện, hai bên sẽ khởi sự hợp tác khai thác dầu khí. Dầu khí là do các chất hữu cơ kết tụ trong các thủy tra thạch kết tầng dưới đáy biển. Các chất hữu cơ này được nước phù sa Sông Hồng Hà từ Vân Nam và Sông Cửu Long, con sông dài nhất Đông Nam Á, từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra Biển Đông từ cả triệu năm nay. Do đó dầu khí nếu có, là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam, chứ không phải từ Hoa Lục. Mặc dầu vậy, tại Vịnh Bắc Việt, Trung Quốc đã đề ra nhiều dự án thăm dò và khai thác dầu khí, như “Dự Án Quỳnh Hải” bên bờ đảo Hải Nam và “Dự Án Vịnh Bắc Bộ” phía Bắc vĩ tuyến 20. (Khi dùng danh xưng “Vịnh Bắc Bộ”, Trung Quốc mặc nhiên nhìn nhận rằng đó là Vịnh của Việt Nam về phía Bắc. Vì nếu là củaTrung Hoa thì phải gọi là Vịnh Nam Bộ mới đúng địa lý).

4.- Với chính sách vết dầu loang, sau khi thành tựu kế hoạch đánh cá và khai thác dầu khí chung tại Bắc Việt, hai bên sẽ tiến tới việc hợp tác đánh cá và khai thác dầu khí chung tại miền duyên hải Trung và Nam Việt. Điều đáng lưu ý là vùng lãnh hải này thuộc thềm lục địa và khu đặc quyền kinh tế đánh cá 200 hải lý của Việt Nam nên thuộc chủ quyền tuyệt đối của Việt Nam. Ở đây không có sự trùng điệp hay chồng lấn hải phận như trường hợp Vịnh Bắc Việt.

Không ai ngu dại gì cho người nước ngoài đến đánh cá và khai thác dầu khí chung tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế riêng của nước mình. Chiếu Điều 77 Luật Biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải. Mọi sự chiếm cứ bất cứ từ đâu tới cũng đều vô hiệu, nhất là chiếm cứ võ trang (trường hợp Trung Cộng dùng võ trang chiếm Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa từ năm 1988).

Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, đế quốc Bắc Kinh buộc Hà Nội hiến dâng toàn thể hải phận Việt Nam từ Vịnh Bắc Việt đến vùng biển Hoàng Sa Trường Sa theo lời cam kết của Hồ Chí Minh (Phạm Văn Đồng chỉ là kẻ thừa sai, bất lực, vô quyền, không có cả quyền bổ nhiệm một thứ trưởng theo lời tự thú của đương sự).

Như vậy, Thuyết Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc từng bị Công Ước về Luật Biển và Tòa Án Quốc Tế bác bỏ, nay sẽ trở thành hiện thực do kế hoạch 4 bước thôn tính Biển Đông của Trung Cộng. Vì quyền lợi riêng tư, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã táng tận lương tâm nhượng đất, bán nước, dâng cá dâng dầu và dâng các hải đảo cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

Hành động như vậy Đảng Cộng Sản Việt Nam đã 4 lần phản bội Tổ Quốc.

Vì những lý do nêu trên:
Thay mặt đồng bào trong nước không còn quyền được nói
Trước Tòa Án Quốc Dân và Tòa Án Lịch Sử
ỦY BAN LUẬT GIA BẢO VỆ DÂN QUYỀN
KẾT ÁN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ
4 TỘI PHẢN BỘI TỔ QUỐC

Luật sư Nguyễn Hữu Thống