Archive for March 2010

Nữ Luật sư Lê Thị Công Nhân lên tiếng tại Đại Hội của Ân Xá Quốc Tế – Phân Hội Pháp

March 18, 2010

Hơn 800 đại biểu và thành viên của Hội Ân Xá Quốc Tế, phân hội Pháp (Amnesty Internation France – AIF) đã tụ tập tại Cité des Congrès, thành phố Nantes, cách Paris 350 km về phía tây, tham dự Đại Hội của Ân Xá Quốc Tế – Phân Hội Pháp, được tổ chức từ ngày 12 đến 14 tháng 3/2010. Trong đại hội này, lần đầu tiên đại diện của đảng Việt Tân đã trình bày những nỗ lực đa dạng của Việt Tân trong nỗ lực đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam, và đặc biệt hơn cả là sự lên tiếng từ Việt Nam của nữ luật sư Lê Thị Công Nhân trước đại hội.

Quang cảnh hội trường

Chương trình bắt đầu vào trưa thứ sáu 12 tháng 3 với lời chào mừng của dân biểu Jean-Marc Ayrault, thị trưởng Nantes và lời khai mạc đại hội của bà Geneviève Garrigos, chủ tịch AIF. Sau những phiên họp khoáng đại, các đại biểu và thành viên chọn cho mình một trong 4 nhóm làm việc (workshop) gồm những đề tài:
1) bảo vệ nhân phẩm con người,
2) tình hình vi phạm nhân quyền tại Nga,
3) vận động để hủy bỏ án tử hình trên thế giới,
4) các nhà tranh đấu cho nhân quyền trên thế giới.

Quang cảnh workshop ngày đầu tiên của Đại Hội

Trong workshop số 4 do ký giả Jean-Marie Biele điều họp, AIF đã mời 3 người ngoài hội phát biểu. Diễn giả thứ nhất là ông Vincent Forest thuộc tổ chức Frontline Defenders. Người thứ thứ nhì là ông Choukhri Ben Jennat, chủ tịch Amnesty International Tunisia. Sau đó là bà Marie Mosse, cựu chủ tịch hội ASADHO nhằm bảo vệ nhân quyền tại Democratic Republic of Congo. Diễn giả thứ tư là anh Trần Đức Tuấn Sơn thuộc Đảng Việt Tân.

Các diễn giả lần lượt trình bày những hoạt động của các tổ chức liên hệ trong lãnh vực tranh đấu cho nhân quyền. Trong phần trình bày của mình, anh Tuấn Sơn đã nhấn mạnh về phương thức đấu tranh bất bạo động và những việc làm cụ thể của Việt Tân để quảng bá và thực hiện phương thức này tại Việt Nam, như phổ biến sách Từ Độc Tài Đến Dân Chủ của TS Gene Sharp, và các DVD Hạ Bệ Độc Tài, Một Lực Còn Mạnh Hơn v.v. Anh Sơn cũng trình bày về chiến dịch bảo vệ các tù nhân lương tâm (Voices of Conscience) và đặc biệt là chiến dịch vận động Tự Do cho ba anh thư Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân và Phạm Thanh Nghiên.

Anh Trần Đức Tuấn Sơn và bà Marie Mosse

Trong buổi họp khoáng đại vào sáng ngày thứ 3 của đại hội, anh Sơn và đảng Việt Tân đã tạo điều kiện để Luật Sư Lê Thị Công Nhân phát biểu trực tiếp qua điện thoại trước 800 đại biểu và thành viên của AIF. LS Nhân đã vắn tắt trình bày về sự vô lý trong bản án mà nhà cầm quyền CSVN áp đặt cho mình và những nhà đấu tranh khác. LS Nhân nhận định rằng cuộc đấu tranh của người Việt Nam cho dân chủ sẽ còn rất nhiều khó khăn, gian nan; tuy vậy chị sẽ không bỏ cuộc và tiếp tục tranh đấu cho một ngày mai tươi sáng hơn cho đất nước. Những phát biểu của LS Lê Thị Nhân đã tạo sự cảm phục cho toàn đại hội với tràng vỗ tay nồng nhiệt trong hội trường. Được biết, trong thời gian LS Lê Thị Công Nhân bị giam cầm, Amnesty International đã xác nhận chị là một tù nhân lương tâm và nhiều lần lên tiếng vận động cho chị.

LS Lê Thị Công Nhân phát biểu qua điện thoại cùng Đại Hội

Sau phát biểu của LS Lê Thị Công Nhân, anh Sơn trình bày trước đại hội về tình hình về quyền tự do trên mạng tại Việt Nam. Qua đó, anh đã nêu lên những giới hạn của nhà cầm quyền đối với các blogger Việt Nam, sự ngăn chặn Face Book, cùng chiến dịch dùng «tin tặc» để nhà cầm quyền giấu mặt đánh phá và triệt hạ các trang mạng độc lập có nhiều độc giả. Trong hoàn cảnh đó, các trang mạng như «Câu Lạc Bộ Nó Kìa», hay chiến dịch vạch trần sự vu khống trắng trợn của nhà cầm quyền CSVN đối với nhà văn Trần Khải Thanh Thủy là những thí dụ tiêu biểu trong rất nhiều nỗ lực của dân mạng Việt Nam nhằm tố cáo sự tham nhũng, bất công, gian trá dưới chế độ Hà Nội. Bên cạnh đó là những chiến dịch như “Đem Facebook Lại Ngay”, hoặc chiến dịch Vận Động cho Tự Do Internet tại Việt Nam được tiến hành từ hơn 18 tháng qua với sự hưởng ứng nồng nhiệt của cộng đồng mạng Việt Nam và một số cộng đồng mạng quốc tế. Sau phần thuyết trình, nhiều thành viên đã nêu câu hỏi cho đại diện Việt Tân để tìm hiểu thêm về những hoạt động tranh đấu cho nhân quyền tại Việt Nam.

Được biết, đại hội của AIF được tổ chức 2 năm một lần tại những thành phố khác nhau ở Pháp. Đây là lần thứ nhì đại hội trở lại Nantes, lần cuối là vào năm 1979. Phân hội Pháp của Amnesty International được thành lập vào năm 1971 và hiện nay có 22,000 thành viên trên 400 thành phố tại Pháp.

Quang cảnh ngày thứ 3 Đại Hội


Advertisements

Đại sứ Cộng sản Việt Nam vi phạm trầm trọng các quyền cơ bản nhất: Tự do, Dân chủ và Nhân quyền

March 4, 2010

Nhân vụ Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang là Pam Roach đưa ra hai nghị quyết tại
Thượng Viện Tiểu Bang:

Nghị quyết thứ nhất là công nhận lá cờ của Việt NamCộng Hòa cũ;

Nghị quyết thứ hai ủng hộ dự án xây tượng đài tại tiểu bang Washington kỷ niệm các chiến sĩ chiến đấu cho Tự Do.

Sau đó Nghị Sĩ Roach nhận một bức thư từ Đại sứ Cộng sản Việt Nam phản đối cả hai Nghị quyết trên.

Ông Terrell A. Minarcin đã đánh máy lại thư Nguyễn Tâm Chiến và viết thư trả lời.
Sau đây là thư phản đối của Nguyễn Tâm Chiến, Đại Sứ Cộng sản Việt Nam gửi

Thượng Nghị Sĩ Pam Roach, tiểu bang Washington .

Ngày 10-2-2004

Kính thưa Thượng Nghị Sĩ Roach:

Với sự quan tâm đặc biệt mà tôi viết thư này gửi ông liên quan đến một nỗ lực thứ hai nhằm thừa nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ được trình bày trong văn kiện SJM8045. Đây là để tái khẳng định rằng nhân dân và chính phủ Việt Nam không thể chấp thuận với dự án xây dựng Tượng Đài. Tôi xin chia sẻ với ông về ý nghĩ của tôi.

Thứ nhất, dự án Tượng Đài đi ngược lại những quy ước quốc tế và thực tiễn.
Bây giờ, cái gọi là Việt Nam Cộng Hòa đã không còn tồn tại, hơn ba mươi năm qua, lá cờ của nó đã không còn chỗ đứng hợp pháp tại Việt Nam. Giống như một số văn bản hoặc nghị quyết, ngôn ngữ của dự án Tượng Đài Kỷ Niệm rõ ràng đã phủ định sự hiện hữu của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ vối Hoa Kỳ từ năm 1995.

Thứ hai, kể từ khi khởi đầu của giai đoạn mới của sự bình thường hóa và hòa giải với quý quốc vào năm 1995, Việt Nam đã làm hết sức mình để đẩy lùi quá khứ và nhìn về phía tương lai, phấn đấu để xây dựng một quan hệ mà đôi bên đều có lợi. Trong tiểu bang của ông, hãng Boeing đã bán máy bay cho Việt Nam và Cảng Seattle vẫn là một cảng chị em với cảng Hải Phòng của miền Bắc Việt Nam trong chương trình trao đổi. Theo ý tôi, dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, dấu hiệu làm sống lại quá khứ của hận thù và buồn đau, không phục vụ cho lợi ích của cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ hoặc tiểu bang Washington.

Thứ ba, với một chính sách kiên định, Việt Nam hoan nghênh sự tham gia năng động của Việt kiều trong việc mở rộng quan hệ có lợi cả hai bên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và sự hội nhập hữu hiệu của họ vào dòng sinh hoạt chính lưu của đời sống Mỹ.Việt Nam hy vọng mãnh liệt rằng cộng đồng của người Mỹ gốcViệt, khoảng gần năm mươi ngàn đã chọn tiểu bang của ông làm quê hương mới, sẽ cũng tiếp nhận tinh thần thân hữu và hợp tác.

Sau hết, ở cấp liên bang vị Ngoại Trưởng và các giới chức cao cấp Hoa Kỳ đã luôn luôn tuyên bố rằng Hoa Kỳ không công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ. Trong cuộc họp với tôi vào mùa hè vừa qua, Thống Đốc Gary Locke đã nói ông ta và tiểu bang Washington ủng hộ sự gia tăng quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tiểu bang Washington và Việt Nam .

Như ông có thể nhớ lại, Nghị Quyết Thượng Viện loại này số 8659 đã bị rút lại sau cuộc duyệt xét vào mùa xuân vừa qua, khi những ý tưởng này được đưa ra bàn thảo.

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng; tôi tin dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, một khi được cơ quan lập pháp của ông thông qua, sẽ đâm bổ vào chính Hiến Pháp. Hoa kỳ là nền tảng trao quyền hành cho việc thi hành chính sách đối ngoại duy nhất trong hệ thống liên bang. Vả lại, bằng sự kêu gọi công nhận lá cờ cũ ấy như là lá cờ chính thức duy nhất của nhân dân Việt Nam , nó sẽ làm cho quyền tự do phát biểu bị nghi ngờ.

Dưới ánh sáng của những nhận xét này, tôi thành kính yêu cầu ông đừng hành động hỗ trợ cho dự án Tượng Đài Kỷ Niệm.

Tôi cảm ơn ông về sự quan tâm và hợp tác.
Với lòng kính trọng cao nhất của tôi.
Ký tên : Nguyễn Tâm Chiến,
Đại Sứ.

=======================================

THƯ PHÚC ĐÁP TỪ WASHINGTON STATE .

Ngày 23-2-2004

Thưa Ông Đại Sứ,

Tôi vừa nhận được một bản sao của thư ông gửi đến Nghị Sĩ Pam Roach đề ngày10-2-2004. Tôi xin trả lời thư đó.

Nếu bất cứ một nước nào khác viết bức thư này, thì sẽ đơn thuần một chuyện buồn cười. Nhưng đây lại là của nước ông, Ông Đại Sứ, nước Cộng sản Việt Nam . Nước ông chưa bao giờ tôn trọng hoặc thành thật tuân theo những thủ tục và quy định của bất cứ một thỏa hiệp quốc tế nào mà nước ông đã ký kết vào.. Tuy nhiên, nước ông sẽ chỉ núp đằng sau các Thỏa hiệp ấy khi nào chúng thích hợp cho quyền lợi của nước ông. Khi có những cá nhân, chẳng hạn như bản thân tôi hoặc Ông M. Benge, hoặc các tổ chức như Ân Xá Quốc Tế, Ủy Ban Tự Do, Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền, cáo buộc quý quốc với vô số hành động vi phạm nhân quyền hoặc tổn hại, thì lập tức quý quốc đáp lại bằng cách nói rằng những vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm tới là những vấn đề nội bộ và rằng chúng tôi đã can thiệp vào chính sách của quý quốc. Thế cũng được.. Ở đây, với quá trình được sắp đặt, chính ông đang can thiệp vào Tiểu bang Washington về những vấn đề không liên quan gì đến ông cả. Sao mà chúng tôi vinh danh sự đóng góp của các cá nhân hoặc các cộng đồng dân tộc ở đây tại Washington lại là ăn nhập đến ông. Xin hãy từ bỏ hành động can thiệp vào những vấn đề nội bộ của chúng tôi.

Ông muốn chúng tôi công nhận và vinh danh lá cờ của ông. Lá cờ đại diện cho một quốc gia đã thực hiện những cuộc tàn sát diệt chủng, huynh đệ tương tàn và buôn bán nô lệ quốc tế. Tôi, với tư cách một cư dân của tiểu bang Washington , không thể nào tha thứ hành động ấy. Sao ông dám đòi hỏi tôi làm? Làm như thế sẽ đưa tôi đến sự đồng lõa với những tội ác lớn lao chống nhân loại của nước ông.

Ông nói rằng dự án Đài Tưởng Niệm phủ định sự tồn tại của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam . Nó chẳng làm được việc nào như thế đâu. Đối lại với các bảo tàng viện và đài tưởng niệm của nước ông, Đài Tưởng Niệm này bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với những người đã trả cái giá cao nhất cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trong nước Việt Nam Cộng Hòa cũ. Ngọn cờ của Việt Nam Cộng Hòa từ đó được công nhận như là ngọn cờ của tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trên khắp thế giới. Các màu sắc của nó thật là tiêu biểu. Ba sọc đỏ tượng trưng cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Trong lúc màu vàng nói lên sự quý giá biết bao của những lý tưởng ấy, màu đỏ tượng trưng cho sự đổ máu để bảo vệ những lý tưởng đó. Cả trong quá khứ và cả đối với những người sẽ bảo vệ những lý tưởng ấy cho đến chết. Tôi, trước hết, hân hạnh công nhận lá cờ Tự Do và tỏ lòng vinh danh nó. Tôi cũng sẽ hân hạnh công nhận lá cờ của ông khi ông công nhận lá cờ của chúng tôi. Trước khi ấy, đối với tôi, lá cờ của ông tượng trưng cho giết hại, khủng bố, ngược đãi, tráo trở, buôn bán nô lệ và vi phạm nhân quyền.

Ông tuyên bố rằng ông đang cực kỳ nỗ lực để đẩy lùi quá khứ.. Vâng, vớI nước của ông, hồ sơ quá khứ là sự xâm phạm tất cả các tiêu chuẩn của hành động văn minh, nên tôi hoàn toàn hiểu được mong muốn đẩy lùi quá khứ của ông. Sau hết, mục đích về sự thừa nhận của ông chỉ bị tổn thương bởi những hành động quá khứ của nước ông.

Tất cả các cư dân của tiểu bang Washington sẽ cảm thấy sung sướng hơn để mở bàn tay thân hữu và hợp tác khi nước ông có đầy đủ Tự Do, Dân Chủ và mở rộng Nhân Quyền cho tất cả người dân Việt Nam. Trước khi đó, xin hãy tránh khỏi công việc nội bộ của chúng tôi.

Dự án Đài Tưởng Niệm không phải là một lời tuyên bố của chính sách ngoạI giao. Nơi mà ông lấy ra cái ý tưởng đó ngoài phạm vi của tôi. Một lần nữa, ông lại cố gắng làm mờ tối vấn đề. Những gì mà nhân dân Mỹ làm không mắc mớ gì tới ông. Đây là một vấn đề nội bộ của tiểu bang Washington do những công dân bình thường vinh danh những người đã hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, là những lý tưởng đáng nguyền rủa đối với chính phủ chuyên chính bạo ngược của ông. Đó là những lý tưởng mà lá cờ nền vàng với ba sọc đỏ đã tượng trưng.

Bây giờ chúng ta hãy nhìn kỹ vào những gì mà nước ông đã làm và đang tiếp tục làm.

Cộng sản Việt Nam đã tham gia vào hành động diệt chủng. Nó đã chính thức bắt đầu suốt trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai. Chính nước ông đã tuyên chiến Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai. Theo định nghĩa lúc bấy giờ, đó là một cuộc chiến tranh. Như vậy, nước ông bị ràng buộc bởi những Quy Ước Genève về cách đối xử với Tù binh chiến tranh. Thế nhưng, như tôi đã nói trước đây, nước ông chưa đủ thành thật và tôn trọng đối với những nguyên tắc căn bản của bất cứ một hiệp định quốc tế nào mà nước ông đã ký vào.

Sự đối xử với tù binh chiến tranh của các ông đã chứng minh cho điều đó. Ngoài ra, các ông đã hành quyết ít nhất là 11 tù binh Hoa Kỳ đang bị các ông giam giữ. Đó là một tội phạm chiến tranh và diệt chủng. Cho đến ngày nay, các ông vẫn cố tình phạm tội diệt chủng. Hãy lấy trường hợp của Lý Tống, một người Mỹ gốc Việt. Các ông đã tìm cách can thiệp vào tòa án và luật pháp của Thái-Lan và yêu cầu Thái-Lan hãy hành quyết Lý Tống.. Tội danh của ông ta là gì? Nói cho dân Việt Nam về Tự Do là một trường hợp mà các ông không thể nào tha thứ được.

Cộng sản Việt Nam đã tham gia và tiếp tục tham gia vào cuộc huynh đệ tương tàn. Việc này đã khởi đầu vào năm 1956 khi chế độ Cộng sản tại Hà Nội phát động chương trình Cải Cách Ruộng Đất. Trong lúc có thể dễ dàng trút trách nhiệm lên kẻ khích động của Cộng sản Quốc tế là Hồ Chí Minh, thì kiến trúc sư thực sự là Trường Chinh.. Đã có bao nhiêu người Việt Nam chết dưới cuộc tàn sát này? 10,000? – 50,000? – 100,000? Nhiều hơn? Ngay cả chỉ có một nạn nhân của cuộc tàn sát này, cũng đã tạo nên cảnh tương tàn huynh đệ rồi. Cuộc tàn sát nhắm vào người thiểu số Việt Nam tại miền Tây Bắc Việt Nam cũng cùng một loại (với cải cách ruộng đất). Mục đích của cuộc tàn sát này là xóa sạch chủng tộc số người Việt Nam thiểu số đã giúp cho người Pháp. Tôi nhắc đến điều này là để chứng minh rằng các ông đã tiếp tục chính sách này sau khi kết thúc Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai với sự bắt đầu chính sách cưỡng bách tái định cư những người Việt Nam đã cộng tác với Việt Nam Cộng Hòa cũ tại những vùng mà các ông thản nhiên gọi là Vùng Kinh Tế Mới.

Các ông tiếp tục chính sách diệt chủng hiện nay dưới dạng ngược đãi và khủng bố tôn giáo, nó cũng là một bằng chứng hiển nhiên về vi phạm nhân quyền. Bất cứ một người nào bị giết hại trong cuộc tàn sát này cũng là nạn nhân của chính sách diệt chủng và tương tàn của nước ông.

Hãy nhìn vào sự gắn bó của nước ông trong hành động buôn bán nô lệ. Nhiều lần trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai và cả sau đó, nước ông bán người Mỹ, bán đồng minh và tù binh Việt Nam qua nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Xô-Viết. Một bằng chứng, năm 1983, nước ông bán 275 người Mỹ và 27,000 tù binh Việt Nam qua Liên-xô để trừ nợ đã vay trong chiến tranh. Đây là một vi phạm quá trọng đại đối với nhân quyền và là một tội ác chống nhân loại. Đã có nhiều lần nước ông bán người Mỹ, đồng minh và tù binh Việt Nam qua Liên-Xô, nhưng mỗi một lần số lượng không nhiều lắm.

Nước ông có thể giải quyết nhiều trường hợp Tù Binh/Người Mất Tích trong khi làm nhiệm vụ một cách dễ dàng bằng cách mở các hồ sơ quân đội và Côngan của nước ông. Nhưng nước ông đã không làm chỉ vì không có lợi lộc gì trong việc giải quyết nhân đạo vấn đề tình cảm này. Nước ông tống tiền nước Mỹ cho lợi nhuận riêng và hưởng thụ. Tại sao? Bởi vì nước ông nhận thấyrằng Tổng Thống Nixon đã hứa viện trợ tái thiết cho nước ông khoảng 4 tỷ 3 đô-la. Điều này có thể xảy ra, nước ông có thể nhận được số tiền này một cách dễ dàng, nếu chịu công bố hồ sơ và danh sách tù binh của nước ông cho các gia đình và cho thế giới. Ít ra việc này cũng có thể làm giảm nhẹ một phần nào trong số tội ác của nước ông.

Rồi thì ông dám trơ tráo đòi hỏi rằng người Mỹ đừng can thiệp vào công việc nội bộ của ông và đòi vinh danh lá cờ của nước ông. Với hồ sơ của nước ông,lẽ ra ông nên vui mừng là đã không bị đưa ra xét xử bởi một Tòa án Quốc Tế về những tội ác chống nhân loại mà nước ông đã phạm.

Vậy thì, xin đừng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của chúng tôi trong việc vinh danh những người đã chết vì Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Xin đừng xen vào để xem làm sao chúng tôi vinh danh những công dân đã đóng góp vào sự an sinh và no ấm của Tiểu bang chúng tôi.

Terrell A.. Minarcin
Concerned Citizen for Freedom, Democracy, and Human Rights for Vietnam .

Bản dịch của NGUYỄN-CHÂU ( San Jose )
NGUYÊN VĂN ANH NGỮ

From: Terrell Minarcin <tektalk@verizon. net>
Subject: Another International Incident

Date: Feb 23, 2004 9:30 PM

This is a rather long e-mail and for that I apologize. However, I think it is well worth reading, even if I did write.
Recently, State Senator Pam Roach introduced two resolutions in our State Senate. The first dealt with recognizing the flag of the former Republic of Vietnam. The second dealt with support for a proposed Freedom Fighters Memorial to be built here in Washington State ..
Senator Roach then received a letter from the ambassador for communist Vietnam that protested both resolutions. I have re-typed the ambassador’s letter. If you wish a copy of the letter with the letterhead on it, please e-mail me back and I will see that a copy of it is FAXed to you. After the ambassador’s letter is my response to him.

Please feel free to pass this e-mail to any one you wish.
Terry Minarcin
—————————————————————————

February 10, 2004


Dear Senator ROACH

It is with particular concern that I am writing to you regarding a second attempt to recognize the flag of the former Republic of Vietnam, as expressed in SJM8045.. This is to reaffirm that the people and Government of Vietnam cannot agree with the proposed Memorial. Let me share with you my thoughts.

First, the proposed Memorial runs counter to international conventions and practices. Now that the so-called Republic of Vietnam ceased to exist over thirty years ago, its flag therefore no longer has legal standing in Vietnam . Like a number of similar bills or resolutions, the language of the proposed Memorial clearly negates the existence of the Socialist Republic of Vietnam that has established full diplomatic relations with the United States since 1995.

Secondly, since the start of the new phase of normalization and reconciliation in 1995 with your country, Vietnam has been doing her utmost to put the past aside and look forward to the future, striving to build a relationship that benefits both sides. In your State, Boeing has been selling airplanes to Vietnam and the Port of Seattle maintaining a sister port exchange program with Vietnam ‘s northern port of Hai Phong. In my opinion, the proposed Memorial, languaged to revive the past of hatred and sadness, does not serve the interests of either Vietnam , or the United States , or Washington State .

Thirdly, as a consistent policy, Vietnam welcomes active participation by Vietnamese Americans in expanding the mutually beneficial relationship between Vietnam and US and their effective integration into the mainstream of the US life. It is Vietnam ‘s strong hope that the community of Vietnamese Americans, about nearly fifty thousand of whom have chosen your State as their new home, will also adopt the spirit of friendship and cooperation.

Finally, at the federal level the Secretary of State and other senior US officials have repeatedly stated that the US does not recognize the former Republic of Vietnam flag. In his meeting with me last summer, Governor Gary Locke said he and the State of Washington are supportive of the acceleration of mutually beneficial ties between Washington State and Vietnam .
As you may recall, the similar Senate Resolution 8659 was withdrawn from consideration last spring when those thoughts were taken into account.

Last but not least; I believe the proposed Memorial, once passed by your legislature, could run afoul of the very US Constitution that vests the powers to conduct foreign policy solely in the federal system. Furthermore, by calling for the recognition of the former flag ‘as the only legitimate flag of the Vietnamese people,’ it also renders the freedom of expression questionable. In light of these considerations, I respectfully urge you not to act in favor of the proposed Memorial.
I thank you for your consideration and cooperation.
With my best personal regards,
(signed)
NGUYEN TAM CHIEN
Ambassador

——————————————————————————-
February 23, 2004

Mr. Ambassador,

I recently received a copy of your letter to State Senator Pam Roach dated February 10, 2004. I would like to respond to that letter.
If any other country had written this letter, it would be, simply put,laughable. But it was your country, Mr. Ambassador, communist Vietnam .

Your country has never honorably or honestly met the protocols of any international agreement that you are a signatory to. Yet, you hide behind these agreements only when they suit your fancy. When individuals, such as myself or Mr. M. Benge, or organizations, such as Amnesty International or Freedom House, or Human Rights Watch, charge yourcountry with numerous counts of violations of human rights or worse, you immediately respond by saying that the matters we are concerned with are internal matters and that we are interfering with your country’s policies. So be it. You are interfering with due process here in the State of Washington in matters that do not concern you. How we honor the contributions of individuals or ethnic communities here in Washington is of no concern to you. Quit interfering in our internal matters.


You want us to recognize and honor your flag. The flag represents a country that has promulgated pogroms of genocide, fratricide and international slave trafficking. I, as a resident of the State of Washington, can not condone such behavior. How dare you insist that I do?
To do so makes me an accomplice to your egregious crimes against humanity. You state that the proposed Memorial negates the existence of the Socialist Republic of Vietnam . It does nothing of the sort. In contrast to your museums and memorials, this Memorial pays tribute to those who paid the ultimate price for Freedom, Democracy and Human Rights in the former Republic of Vietnam . The flag of the former Republic has since come to be recognized as the flag for the struggle for Freedom, Democracy, and Human Rights throughout the World. The colors are quite symbolic. The three bands stand for Freedom, Democracy, and Human Rights. While the gold shows how precious these ideals are, the red stands for the blood shed for these ideals, both in the past and for those who will defend these ideals to the death. I, for one, am glad to recognize the Freedom Flag and to pay honor to it.
I will be glad to recognize your flag when you recognize mine. Until then, your flag, for me, stands for murder, persecution, duplicity, slave trading, and human rights violations.
You state that you are trying your utmost to put the past aside. With your country’s past records of abuse of all standards of civilized behavior, I fully understand your desire to brush the past aside.
After all, your cause for recognition is only hurt by your past actions.
All of the residents of Washington will be more than happy to extend to you the hand of friendship and cooperation when you fully embrace Freedom, Democracy and to extend Human Rights to all Vietnamese. Until then, stay out of our internal affairs. The proposed Memorial is not a statement of foreign policy. Where you got that idea is beyond me. Once again, you try to cloud the issue.

What the people of America do is not your concern. It is an internal affair of the State of Washington by private citizens to honor those who gave their lives defending Freedom, Democracy, and Human Rights, ideals which are anathematic to your despotic government. That is what that flag of gold with three horizontal red stripes stand for.
Now let us look closely at what your country has done and continues to do.
Communist Vietnam has engaged in genocide. This began in earnest during the Second Indochina War. You declared it the Second Indochina War. By definition then, it was a war. As such, you were bound by the Geneva Conventions governing the treatment of Prisoners of War (POWs).. But, as I stated before, you have yet to honestly and honorably meet the tenets of any international agreement to which you are a signatory.
Your treatment of POWs testifies to this.. In addition, you executed at least 11 American POWs who were in your custody. This is a war crime and genocide. To this day, you try to commit genocide. Take the matter of Ly Tong, a Vietnamese-American . You tried to interfere in a Thai court of law and demanded that Thailand execute Ly Tong. His crime? Telling the Vietnamese about Freedom, a condition that you can not tolerate. Communist Vietnam has engaged in and continues to engage in fratricide.
This began in 1956 when the communist regime in Hanoi started their land reform programs.. While it would be easy to blame the agent provocateur of the Communist Internationale, Ho Chi Minh, the real architect was Truong Chinh. How many Vietnamese died under this pogrom?10,000? 50,000? 100,000? More? Even one victim of this pogrom constitutes fratricide. The pogrom initiated against the Vietnamese minorities in northwest Vietnam fall into this same category.
The aim of this pogrom was to ‘ethnically cleanse’ Vietnam of those minorities who had helped the French. I mention this to show that you continued this policy after the conclusion of the Second Indochina War with the start of your forcible relocation of Vietnamese who were associated with the former Republic of Vietnam to those areas you so blithely called New Economic Areas. You continue your ethnic cleansing
today under the guise of religious persecution, which is also a blatant human rights violation.. Any one executed under this pogrom is a victim of your genocidal and fratricidal policies.
Let us take a look at your country’s involvement in the international slave trafficking movement. Several times during the Second Indochina War, and even afterwards, you sold American, allied, and Vietnamese POWs to the former Union of Soviet Socialist Republics . To whit, in 1983, you sold 275 American and 27,000 Vietnamese POWs to the USSR to reduce your war debt to them. This is a most egregious violation of human rights and a crime against humanity. There were other times you sold other American, allied and Vietnamese POWs to the USSR but not so many at one time.

You could resolve many of the POW/MIA cases with ease by opening up your military and political police files. You do not because there is no profit in humanely resolving this emotional issue. You extort monies from America for your own profit and gain. Why? Because you feel that President Nixon promised you some $4.3 billion dollars in reconstruction aid. Be that as it may, you can recover that money easier if you release your files publicly to the families and to the world. At least this can mitigate some of your crimes. And then you have the gall to demandthat Americans not interfere in your internal affairs and to honor yourflag. With your record, you should be happy not to be on trial by aninternational court for your crimes against humanity.

Until then, do not interfere in our internal affairs in how we honor those who have died for Freedom, Democracy, and Human Rights. Do not interfere with how we honor our citizens who contribute to the well being and welfare of our State.

Công an VNCS đội lốt Tu hành

March 1, 2010

(lưu ý trong phòng các sư ăn nhậu trên tường treo tranh Sexy )

Khi công an đội lốt tu hành

Nhân ngày lễ Vu Lan chúng tôi xin đề cập tới một vấn đề ít được bàn đến trong xã hội đó là những cán bộ công an mặc áo nhà sư. Vốn người Hà Nội lại sinh sống và học tập ngay trên địa bàn thủ đô nên cuộc gặp mặt với người cán bộ an ninh tận tụy thượng tọa Thích Bảo Nghiêm quả thật không khó khăn gì.

Đồng chí Nghiêm (tên dùng khi hoạt động, tên riêng xin được giữ bí mật) tiếp chúng tôi tại nhà riêng đó là một căn hộ trung cư cao cấp ở khu đô thị mới Trung Hòa Nhân Chính, không phải trong bộ quần áo bảo hộ lao động nâu sồng mà với Jean nhãn hiệu Lee và áo phông in hình anh da đen mồm ngậm thuốc lá Marlboro cùng dòng chữ Bad Boy thật ấn tượng và gần gũi. Đầu giờ chiều giọng anh vẫn còn hơi ngái ngủ, chúng tôi đã làm phiền anh nhưng với thái độ rất thân thiện anh mời chúng tôi ngồi chơi nói chuyện, anh gọi với vào bếp “đun nước rồi mang trà ra nhé“, một cô gái trẻ xinh đẹp ít phút sau bước ra miệng nhoẻn nụ cười liên hoa. Con nhà phật có khác nét đẹp thật thanh tao, dịu hiền làm cho chúng tôi có cảm giác gần mà xa.

Vinh danh nhà sư công an Thích Bảo Nghiêm, khi công an đội lốt tu hành.

ảnh: Thích Bảo Nghiêm trong bộ quần áo ngụy trang đang liếc mắt, sóng tình dào dạt

Nhâm nhi chén trà ướp sen anh nói, Vu Lan có bận gì đâu, tổ chức đã sắp đặt đâu vào đó cả rồi, hôm nay ngủ muộn vì tối qua còn phải giảng kinh cho nữ thí chủ đây, anh kể, vì có 15 năm tuổi đảng và công tác tốt trong ngành an ninh nên được cử giữ chức Ủy viên thư ký Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo VN, Phó trưởng ban thường trực Giáo hội Phật giáo HN, bởi vậy những câu nữ thí chủ hỏi về liên quan giữa đảng và đổi mới anh đều trả lời một cách hoàn hảo.

Anh nói đảng là đầu tầu kéo cả nước đi lên ấm no hạnh phúc.

Thí chủ thắc mắc: đầu tầu này xuất xưởng năm 1930, chạy từ đó đến nay đã quá cũ, tiếng động ồn (nổ to như nghị quyết) than cháy khói đen xì làm sao đuổi kịp thế giới. Có lẽ nên bán phế liệu. Anh nói bán cũng phải tìm người mua chứ, hay bán cho viện bảo tàng xe lửa thế giới ở London.

Nữ thí chủ lại chất vấn khẩu hiệu “Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội“ ý là thế nào. Phải chăng đạo pháp, dân tộc là hai thứ tốt, là con nhà lành đi với CNXH là thứ dữ là thằng mất dạy, đạo pháp, dân tộc muốn cảm hóa CNXH thành thứ tốt? Anh Nghiêm giảng, học cái tốt thì khó chứ theo cái xấu rất dễ. Thí chủ thắc mắc vậy thì thằng CNXH mất nết nó làm hỏng cả đạo pháp và dân tộc rồi cũng nên. Khổ thế đấy, cứ vặn vẹo mãi. Thôi đành kể chuyện làm ví dụ để thí chủ mau ngộ.

Ngày kia, anh Nghiêm đi thăm hỏi nhân dân, gặp đồng chí công an nọ. Anh Nghiêm hỏi: đảng đã làm gì cho các anh? Anh công an đáp, đảng đã cho tôi nhà để ở, cho tôi xe để đi. Thế thì đảng lo cho dân tốt quá rồi còn gì anh Nghiêm kết luận.

Đi một đoạn thấy em thanh niên xung kích, anh Nghiêm lại hỏi: đảng đã làm gì cho các em? Em thanh niên xung kích trả lời, đảng đã cho em điện thoại di động, tiền sinh hoạt hàng tháng. Thế thì đảng lo cho dân tốt quá rồi còn gì anh Nghiêm kết luận.

Đến cuối con đường thấy một em cave cao cấp đang ngồi chơi, anh Nghiêm hỏi: đảng đã làm gì cho chị? chị cave nói, đảng đã cho tôi nhà để ở, cho tôi xe để đi, cho điện thoại di động, tiền sinh hoạt hàng tháng. Anh Nghiêm giật mình thốt lên, thế thì đảng của Nghiêm, đảng của Bác là đảng tốt nhất trên thế giới, từ xưa tới nay chưa có đảng nào bao gái triệt để và toàn diện như đảng cộng sản Việt Nam. Hoan hô đảng! Hoan hô bao gái! Hoan hô đảng bao gái!

Dưới đây là một số hình ảnh các chiến sỹ công an sinh hoạt tại “chiến trường“.

ảnh: Chàng sư công an để râu rất sành điệu

ảnh: Fan hâm mộ tặng hoa, chiến sỹ vỗ tay rầm rập

ảnh: Sư an ninh hội nhập thế giới với Fanta, Cola (chú ý tranh treo tường).

*** đọc thêm: Lật mặt an ninh mật vụ trong giới tu hành.***

Sự thật về ông Thanh Tứ, khi những con quỷ mặc áo cà sa.

Thích Thanh Tứ tên cúng cơm là Trần Văn Long, bản sao giấy khai sinh mẫu TP/HT 1999-A 2 a Số 69 trong hồ sơ ứng cử đại biểu quốc hội khóa 12 ghi năm sinh là 1927, người xã Song Mai, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Vốn không phải con nhà phật, gia đình không tôn giáo như nhiều gia đình khác ở miền bắc xã hội chủ nghĩa. Long nhập ngũ, đi bộ đội nhiều năm, không có thành tích và cống hiến gì đặc biệt. Nhiều người cùng thời gian nhập ngũ với Long kể lại chuyện vì có tình cảm trên mức bình thường với mấy cô thôn nữ ở Hải Hậu Nam Định khi đóng quân tại địa phương mà Long bị kỷ luật.

Sau năm 1975 Long chuyển từ quân đội sang an ninh và bắt đầu thâm nhập vào hàng ngũ phật giáo miền bắc. Từ năm 1980 nhận nhiệm vụ vào miền nam lôi kéo, đánh phá Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Kể từ đó Long được thăng thưởng nhanh đến nay đã là Phó Chủ tịch Thường trực Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, giáo phẩm Hòa Thượng. Vì cùng ngành dọc với nhau, lại thường xuyên gặp gỡ trao đổi với bên công an nên nhiều khi cái đuôi mật vụ lòi ra nhất là lúc trả lời phỏng vấn. Long từng khen việc đàn áp phật giáo, bắt sư, giam phật tử bằng câu “ Tôi nghĩ anh em Công an đã làm việc rất đúng“, cái tình đồng đội anh em thể hiện quá rõ, quá lố bịch.

Hiện Long “trụ trì“ chùa Quán Sứ, số 73 phố Quán Sứ, phường Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ngôi chùa cổ kính này dưới sự chỉ đạo của Long đã biến thành hang ổ ăn chơi khét tiếng, nhiều ni cô, tín nữ, vãi trẻ đã tức tưởi ra đi, người hoàn tục, kẻ về quê lấy chồng hoặc tự vẫn mà ni cô Thích Bảo Hòa là một ví dụ. Mặc dù giữ giáo phẩm cao, tuổi cũng đã lớn nhưng Long vẫn hay khoe khoang những chiến tích lúc còn trong quân ngũ để lòe bịp phụ nữ nhẹ dạ cả tin. Với chân đại biểu quốc hội Long hay lấy le với đồng đạo bằng cách trả lời, xuất hiện thường xuyên trên báo chí, truyền hình, đặc biệt Long rất thích chụp ảnh cùng lãnh đạo đảng, nhà nước. Vì không được đào tạo chính quy như những tu sĩ phật giáo trong nam ví dụ Thích Hiển Pháp (đại học phật giáo), Thích Chơn Thiện (tiến sĩ phật học, cử nhân triết học) nên Thanh Tứ không được coi là người có trình độ, bù vào Tứ rất năng động trong việc hiến đất nhà chùa cho ủy ban nhân dân các cấp cũng như chỉ đạo tay chân đưa nhiều đối tượng hình sự cộm cán vào giáo hội để lũng đoạn và nguy hại hơi là phá hỏng đạo pháp. Chỉ có Long mới nghĩ ra cái trò hề, tù nhân mãn hạn với 5 năm quản chế tại địa phương nếu chịu “đi tu“ vào chùa một năm (làm việc cho an ninh) thì tha án quản chế.

Thanh Tứ rất lèm nhèm trong việc đưa tiền cứu trợ lũ lụt cũng như nạn nhân chất độc da cam. Tứ từng ký hợp đồng mua mỳ ăn liền, chăn màn với công ty tư nhân để ăn tiền hoa hồng, đoàn cứu trợ giáo hội gồm một bầy nhăng nhố nam nữ lẫn lộn, khi nghỉ tại khách sạn Du Lich Công Đoàn Hồ Goong – Nghệ An năm 2005 đoàn của Tứ toàn thuê phòng đôi và sau khi rời khỏi khách sạn còn bị cán bộ khách sạn kêu ca vì sinh hoạt bừa bãi.

Tóm lại việc phá hoại phật pháp tại Việt Nam đã được đảng và chính phủ theo đuổi nhiều năm nay, những ngón đòn hiểm độc liên tiếp được tung ra, hiện tượng những con quỷ mặc áo cà sa rất phổ biến.

==========

Sau khi trả lời ông Đinh Ngọc Ninh bỗng nhiên tôI nhận được một loạt thư, hỏi:

– Bà có phảI phật tử không? Chúng tôI thấy nhiều quan điểm trong bài viết của bà rất gần với lý thuyết đạo Phật.

– Nếu điều chúng tôi nghi ngờ là đúng, tại sao một người đấu tranh cho dân chủ lại có thể là phật tử?…..

Câu trả lời của tôi là: Tại sao không?

Đạo Phật không biên giới. Đó là một tôn giáo thẫm đẫm tính đạo đức và triết lý. Đạo Phật cũng như bất cứ tôn giáo nào khác đều tồn tại và phát triển thông qua hằng hà sa số các cá nhân. Bất cứ cá nhân nào cũng có một gốc rễ văn hóa, cũng mang một nhãn hiệu bản thể gọi là quốc tịch. Do đó khi trong một con người cùng tồn tại song song hai tình yêu lớn: tôn giáo và tổ quốc, người đó ắt phải tranh đấu cho hai kỳ vọng, hai niềm tin.

Vì thế, câu trả lời của tôi là: Tại sao không?

Tuy nhiên, tôi chỉ là phật tử theo cách của riêng tôi. Tôi không đi lễ chùa. Chẳng phải là cố tình tìm một cách tồn tại độc đáo nhưng vì tôi không có khả năng thỏa hiệp, cho dù đó là một sự thỏa hiệp dễ chịu nhất.

Cách đây chừng mười bảy mười tám năm một ngày Xuân tôi đi viếng cảnh chùa. Ngôi chùa đó nằm gần phủ Tây Hồ. Trên đường tới phủ rẽ tay phải chừng non trăm mét là tới. Tôi không còn nhớ rõ tên chùa mặc dù đó là nơi trước khi xảy ra sự việc năm nào tôi cũng tới, khoảng một hai tháng một lần, siêng năng nhất là mùa xuân và mùa Thu. Đó là ngôi chùa cổ còn may mắn sót lại sau những cơn đốt phá đình chùa đền miếu theo chủ trương “tiêu diệt tàn dư phong kiến” của chính quyền cộng sản. Không có gì đặc biệt ở ngôi chùa ấy, ngoài một mảnh vườn nhỏ vừa trồng đào vừa trông mai. Có lẽ cảnh tượng thân ái của những cây đào và cây mai chen vai, thích cánh cuốn hút tôi vào mùa xuân và khi mùa thu đến, đám cành trần trụi khẳng khiu vươn lên trong lặng lẽ cũng mang lại một vẻ đẹp u sầu và nghiêm cẩn, vẻ đep ta thường gặp ở mọi ngôi chùa cổ xứ Bắc.

Trưa hôm đó, tôi qua cổng chùa đi vào ngôi nhà ngang. Vừa đặt chân lên bậc tam cấp tôi chứng kiến một cảnh tượng không tương hợp chút nào với chốn từ bi: Trên tấm phản gỗ mốc, sư cụ bà ốm nằm còng queo, bát cháo ăn dở ở một góc phản khô đét lại. Nhà “sư nữ” ngoại tam tuần mắt long sòng sọc, tay nắm cổ người bệnh lắc, miệng rít lên:

– Mày chết đi, mày chết ngay đi cho người ta nhờ!….

Sư cụ đã quá yếu không động cựa nổi, cái đầu lắc lư ngật ngưỡng như quả bưởi trong tay người đàn bà trẻ hung hãn:

– Mày chết đi…..

Tôi định lui ra nhưng cô ta đã nhìn thấy tôi. Quá muộn cho cả đôi bên. Hẳn cô ta không ngờ có kẻ đột nhập vào “ngang hông” bởi thông thường khách thập phương phải qua sân đi vào chùa chính. Cô ta không biết rằng tôi quen mọi ngõ ngách và thường đi tắt qua nhà ngang vào chùa sau để hầu chuyện sư cụ. Không thể mở miệng “mô phật” như lần trước cô ta ném cho tôi một cái nhìn giận dữ và thách thức rồi ngoay ngoảy quay đi. Tôi ngồi xuống phản với sư cụ. Cụ không mở mắt nổi và giọng nói đã đứt quãng nhưng hoàn toàn minh mẫn. Đó là người đã xuống tóc từ thời chính quyền 1945 chưa thiết lập, đã duy trì và tu tạo ngôi chùa này qua mọi thăng trầm của thời gian. Nhưng cụ không có mảy may quyền hành để lưu giữ các chân tu ở lại, thay cụ chủ trì. “Nhân sự” do “bên trên” đưa xuống.

Vậy cái gì là “bên trên” ?

Quyền lực nào áp chế những người tu hành và thả lũ lợn bẩn thỉu vào khắp chùa chiền xứ sở? …. Chẳng có gì bí mật cả, “bên trên” là A 25 Cục bảo vệ văn hóa thuộc Tổng cục 1 Bộ Nội vụ. A 25 có nhiệm vụ đào tạo sư sãi để “yểm” Hội Phật giáo Việt Nam, để trấn giữ hệ thống chùa toàn quốc. Không ai quên rằng chính nhà nước cộng sản đã dấy lên cơn bão kinh hoàng nhằm tàn phá đình chùa, đền miếu thậm chí đào mồ hốt mả chúng sinh, tiêu diệt tất cả những gì mà họ cho là “tàn tích của chế độ phong kiến”. Trong một thời gian dài, những người cộng sản muốn xóa sạch tất cả các tôn giáo, bắt chúng sinh thờ vị thần duy nhất mắt xanh mũi lõ tên là Karl Marx và đám tông đồ của ông ta. Nhưng để xóa đi một đức tin và thay thế vào một đức tin khác không dễ dàng như họ tưởng. Và không phải bất cứ lúc nào họng súng cũng đem lại những kết quả mong muốn. Thời gian không ủng hộ họ. Bức tường Berlin sụp đổ và Lénine vĩ đại của họ sụp đổ theo. Dân Nga xích cổ tượng ông ta kéo lê trên bùn. Đám tín đồ phương Đông đứng chơ vơ không biết từ nay “người cầm lái vĩ đại” của họ sẽ là ai? … Trong lúc đó dân chúng ào ào dựng đình, cất chùa. Khắp nơi miếu mạo, đền chùa, lăng tẩm dựng lên theo trí nhớ. Chính quyền cộng sản có thể truy bức tàn sát chúng sinh, cướp bóc phá hủy tài sản của họ, nhưng trí nhớ và niềm tin là những thứ không thể bắn thủng bằng các loại đạn. Và như thế, giờ đây dân chúng đã xây lại tất cả những gì đã từng bị họ tàn phá, nếu không nói là còn nhiều hơn. Nhu cầu tâm linh hóa ra cũng là một nhu cầu sinh tử của kiếp người. Trước tình hình này A 25 trở nên quan trọng hơn trong vai trò “bảo vệ nền chuyên chính”. Nhiệm vụ của họ là “khống chế hội phật giáo” biến chùa chiền toàn quốc thành hệ thống pháo đài của quyền lực, rình mò theo dõi tư tưởng dân chúng và ….điều này nữa, các tín đồ của Marx không quên: tận thu nguồn lợi béo bở từ đám chúng sinh “mê tín” kia. Vậy là đội quân “sư nhà nước” được hình thành. Nguồn đào tạo chính là C 500 (đại học ngành an ninh). Thêm nữa, sinh viên tuyển lựa từ các đại học khác như Tổng hợp, Sư phạm, Ngoại ngữ …. có thành phần cơ bản (lý lịch đáng tin cậy) được vũ trang bằng lý thuyết giai cấp của Marx-Lénine và một thứ chủ nghĩa duy vật hạ đẳng. Sau đó, lớp người này được “tráng men” bằng lý thuyết đạo Phật và trước hết các phương pháp niệm kinh, hành lễ để “vào nghề”.

Như thế nhà nước cộng sản đã tạo nên một đội ngũ “tôi tớ trung thành” được quyền thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất và nhục thể dựa trên sự đầu cơ trục lợi “những khát vọng tâm linh” của dân chúng. Các ông sư bà sư áo quần phấp phới cưỡi xe vù vù đi “họp kín”. Họp kín ở đây tức là họp “giao ban” ngành dọc A 25. Họ báo cáo rành mạch mọi thành tích. Riêng những cọc tiền thu được từ các hòm công đức là “không thể rành mạch” vì các sư còn phải mang về quê xây nhà tầng và lo cho các con học đại học trong nước và ngoài nước. Sư hành nghề ở Thái Nguyên, Hà Bắc thường có quê quán gia thất tại Thanh Hóa, Nam Định và ngược lại …. So với các nghề khác trong Bộ Nội vụ, “nghề làm sư” là béo bở, chỉ thua kém “Cục buôn lậu ma túy” thôi.

Cả một bộ máy lừa bịp vận hành nghiễm nhiên và ngang nhiên dưới ánh mặt trời, trước mắt dân chúng.

Dân chúng, tuy thường xuyên phải cúi mặt nhẫn nhục cam chịu, đôi khi cũng vùng lên tranh đấu, đòi đuổi sư nhà nước, giành chùa cho chân tu. Vụ biểu tình của các tín đồ chùa Láng Hà Nội cách đây ba năm là một ví dụ. Trong tối hôm đó, công an đã bắt giam trên một trăm tín đồ.

Vậy tôi xin trở lại lý do khiến tôi không đi lên chùa từ gần hai thập kỷ nay, sau kỷ niệm đau buồn với sư cụ tôi không còn muốn nhìn thấy một lần nữa bọn “thầy chùa đểu”.

Nhưng chưa hết.

Tôi không đi lễ chùa cũng còn vì chùa chiền giờ đây đầy rẫy bọn “đao phủ” đi “đánh quả” thần, phật. Gọi là “đao phủ” vì chính lũ người đó trước đây đã ra lệnh phá đình chùa, đuổi sư sãi, vặt cổ vặt tay tượng phật làm củi…. giờ đây chúng lại xì xụp hương khói hơn tất thẩy mọi người.

Vì sao có sự đổi hướng quay chiều? ….

Tôi sẽ trả lời tường tận nhưng trước hết, để tránh rơi vào lối ám chỉ chung chung tôi xin nêu dẫn chứng:

– Một là, những người dân Huế cỡ trung niên hẳn chưa quên câu ca này:

Bùi San cùng với Trần Hoàn
Hai thằng ngu ấy phá đàn Nam Giao

Bùi San: bí thư tỉnh ủy. Trần Hoàn: trưởng ty văn hóa. Công trình chung của họ là hủy diệt một di tích lịch sử nơi xưa kia các vua Nguyễn tế Trời Đất và tiên vương. Sau này, ông Trần Hoàn ra làm bộ trưởng Bộ Văn hóa, vợ con ông ta xem bói từ Nam ra Bắc, khấn lễ mọi nơi, đặc biệt lễ hậu là Bia Bà để cầu cho ông được“vững vàng”. Riêng tôi, tôi nhìn thấy ông nhiều lần cắp cặp đứng trước cổng nhà các vị “Bộ Chính trị”. Quả là một cuộc hiệp đồng tác chiến; vợ con ông đi đút lót “thần, phật” còn ông đi hầu hạ các “thánh sống” để ông được duy trì thêm 4 năm trên ghế bộ trưởng vì ông đã già lại quá nhiều khiếu kiện, cấp trên của ông đã chấm ông “vào sổ hưu”.

– Hai là, thời kỳ Lê Khả Phiêu làm tổng bí thư Đảng, ngoài chiến dịch “Thanh Hóa hóa bộ máy cầm quyền” ông ta đã tranh thủ đào bới ngân khố quốc gia để xây dựng lại, mở mang hoành tráng đền thờ Lê Lai, tin tưởng đó là tổ tiên trực tiếp, là thần hộ mạng cho mình.

– Ba là, vài năm gần đây nhiều người họ Trần vênh vang tuyên bố rằng họ Trần sắp sửa bước vào thời kỳ “đại phát” vì Trần Đức Lương vừa cho xây khu mộ cổ họ Trần tại Thái Bình. Khu mộ này sẽ được xây theo thế “rồng phục” sao cho ít nhất, chín đời họ Trần sẽ liên tục “làm vua” …v v.. và …v v..

Theo logic, ngày nào chế độ độc tài này còn tồn tại thì tất thảy bọn cầm quyền họ Miêu họ Thử họ Ngưu họ Mã …. sẽ lần lượt vét ngân khố quốc gia để xây dựng mồ mả đền miếu cho riêng dòng tộc của chúng với một chủ đích hoặc ngụy trang hoặc lộ liễu: Duy trì quyền lực.

Quyền lợi, đó là căn nguyên sự quay chiều đổi hướng của kẻ cầm quyền. Marx và Lénine hết sài được thì quay sang “đầu tư, đánh quả” thần, phật. Hạng người ti tiện, lòng tham ngùn ngụt như vậy làm gì có “tâm hồn tôn giáo”?…, nhất là một tôn giáo có quá nhiều yêu cầu đạo đức, cấu trúc trên tinh thần khắc kỷ như đạo Phật? … Không phải vô cớ mà so với đạo Hồi và Thiên Chúa giáo, đạo Phật có ít tín đồ hơn. Con đường dốc khó trèo. Con đường dốc ấy làm sao tương hợp được với bọn cởi áo đao phủ khoác áo cà sa điềm nhiên như diễn viên thay trang phục sân khấu, không một chút ngượng ngùng, không mảy may hối tâm, không một lần thành khẩn trước tha nhân?

Lẽ ra, chính quyền Việt Nam phải xin lỗi dân chúng một cách công khai, một cách thanh thật, một cách nghiêm khắc vì tội ác phá đền chùa lăng miếu, đào bới san ủi mồ mả tiền nhân của chúng sinh. Nếu họ cải tâm họ đã phải làm điều đó trước khi đặt chân lên thềm những đền chùa mà dân chúng gom góp xây dựng lại.

Nhưng cái ngã mạn của kẻ cầm quyền khiến lương tâm họ mù tối. Họ không cần xin lỗi ai bởi vì họ tự nhận là “Đảng thần thánh và vĩ đại”. Và vì “thần thánh và vĩ đại” họ đã thản nhiên làm cái việc mà cổ nhân từng cảnh báo:

“Thế gian có mặt mũi nào
Đã nhổ lại liếm làm sao cho đành”

Tôi chuyển sang mục thứ hai: Tôi là phật tử theo kiểu của riêng tôi. Không đi lễ chùa đã đành, tôi cũng không tin tuyệt đối vào lòng từ bi. Đối với tôi, lòng từ bi không thể độc hành. Lòng từ bi phải bước song song với một trí tuệ sáng suốt và khả năng chiến đấu chống lại điều ác.

Khi lòng từ bi không được rọi chiếu dưới ánh sáng trí tuệ, nó dễ dàng đưa ta đến tai họa. Chỉ cần nhớ lại tích “Đường Tam Tạng đi lấy kinh” là đủ. Đã bao nhiêu lần vị sư phụ này mắc lừa bọn yêu quái, niệm chú để xiết chặt vòng kim cô làm Tôn Ngộ Không đau đớn vật vã điên cuồng. Và cũng chớ nên quên rằng bao nhiêu lần ông ta mắc lừa, bấy nhiêu lần Tôn Hành Giả đi giải cứu.

Khi thiếu khả năng chiến đấu chống lại cái ác, lòng từ bi của chúng ta biến thành chất dầu nhờn, bôi trơn cỗ máy nghiền của loài ngạ quỷ và chính cỗ máy này sẽ nghiền nát chúng sinh. Một dân tộc hiền hòa như dân tộc Tây Tạng đã mất nước vì thiếu khả năng chiến đấu. Quân lính Trung Quốc không chỉ xâm chiếm, tàn phá đất nước Tây Tạng mà còn đổ than hồng vào đầu vào họng các nhà sư và tra tấn họ bằng tất cả những hình thức tra tấn thời Trung cổ.

Thêm một ví dụ nữa: Ai cũng biết ở Khơ-me đạo Phật là quốc giáo. Vậy mà chính tại xứ sở này nạn diệt chủng đã xảy ra. Hơn hai triệu người bị giết dưới chính quyền Khơ-me đỏ. Thê thảm thay, rất nhiều cuộc tán sát man rợ lại xảy ra chính tại các chùa. Nơi thờ cúng linh thiêng biến thành địa ngục và giờ đây, thành một thứ bảo tàng lưu giữ đầu lâu của các nạn nhân.

Với nghiệm sinh, tôi xin góp một dẫn dụ nhỏ. Năm 1991, trong gần tám tháng tù, tôi nhớ nhất câu này:

– Chị sẽ được ra tương ớt! Chị sẽ được nghiền ra tương ớt!

Không phải vì câu nói được lặp đi lặp lại mà vì thái độ của những người nói. Họ có một vẻ hài lòng đáng sợ, một sự điềm nhiên đáng sợ. Tôi không thù ghét họ: một đại tá, một đại úy, một trung úy. Có lẽ về bản chất họ không phải người ác người xấu. Nhưng họ đã được đào tạo để làm cái việc “nghiền người khác ra tương ớt”. Vì thế, đối với họ, việc nghiền ai đó ra tương ớt là phận sự, là phương tiện sinh tồn, giống như người thợ phay bào một con ốc thép hoặc người đầu bếp xào món rau.

– Chị sẽ được nghiền ra tương ớt!

Mỗi lần nghe câu nói đó, tôi đọc thấy trên gương mặt họ niềm hạnh phúc thanh thản của “Gã nông phu vừa cày xong thửa ruộng, Ngả mình trên nếp cỏ ngủ ngon lành”.

Đương nhiên, họ chuẩn bị mọi sự để cho tôi ra “tương ớt”. Nhưng không may cho họ, một tuần sau cuộc đảo chính ở Nga thất bại, thành trì của chủ nghĩa xã hội sụp đổ tan tành, cả ê-kíp ba người hỏi cung tôi tái xanh tái xám, mặt họ hiện lên nỗi hoang mang thê thảm, không còn chút tự tin.

Họ phải dừng tay, không dám cho tôi ra “tương ớt”.… Và rồi, với 95 triệu franc viện trợ không hoàn lại của chính phủ đảng Xã hội Pháp, nhà nước cộng sản đã thả tôi ra….

Hơn một thập kỷ trôi qua, tôi vẫn không quên hình ảnh “tương ớt”. Vì cỗ máy nghiền con người ra tương ớt vẫn tồn tại. Và nó tiếp tục nghiền những người khác. Cả một đội ngũ “thợ nghiền” tiếp tục nuôi sống bản thân cũng như vợ con họ bằng nghề nghiệp này. Liệu các vị có thể dùng lòng từ bi hỉ xả như vũ khí tối hậu và duy nhất để làm thay đổi cỗ máy nghiền này chăng? ..?….?….

Tôi không tin.

Vì thời gian hữu hạn, khả năng con người cũng hữu hạn.

Vì sự tập nhiễm là bản năng thứ hai có sức mạnh ghê gớm mà chỉ riêng lòng tốt không đủ để đổi thay.

Vì lẽ đó, cuộc đấu tranh của Phật Tử cũng như của giáo dân không thể chỉ tựa trên sức mạnh của lòng từ ái. Cuộc đấu tranh nào cũng phải có chiến lược và chiến thuật, tùy cơ ứng biến. Và dù đứng dưới bóng Phật hay bóng Chúa, con người cũng cần có một bộ óc phán đoán phân tích sắc bén cộng với một khả năng đủ cho việc chống lại cái ác, bên cạnh lòng hỉ xả từ bi,

Tôi là phật tử theo kiểu của riêng tôi vì tôi không bao giờ chủ trương đạo Phật trở thành “quốc giáo”, tôi đấu tranh cho một nền dân chủ đích thực mà nền dân chủ đích thực chỉ cho phép tồn tại một nhà nước thế tục trong đó tất thảy các tôn giáo đều được bảo vệ một cách bình đẳng nhưng trước hết mọi tín đồ đều có nghĩa vụ làm công dân xứng đáng.

Với tôi, chỉ có một nền dân chủ đích thực cho phép thay đổi thường xuyên các chính phủ thối nát, lạm nhũng mới cho phép các tôn giáo tồn tại đúng với tư cách tôn giáo, đền chùa và nhà thờ mới tồn tại như những chốn thiêng liêng nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của cõi người mà không bị biến thành đồn bốt bảo vệ cho quyền lực nơi đám cường hào trá hình ức hiếp người tu hành và bóc lột chúng sinh.

Bây giờ, là một câu hỏi có tính riêng tư:

– Cơ duyên nào đưa bà đến cửa thiền?

Tôi xin trả lời:

– Sự đưa dẫn của số phận.

Đúng như vậy. Tất cả những ngả rẽ lớn trên đường đời, tôi không trù tính. Tất cả, đều xảy ra như những ngẫu nhiên. Nói một cách bóng bẩy hơn suốt phần đời tôi đã trải qua là tạo phẩm dưới bàn tay vô hình của số phận. Tuổi thơ, tôi không mơ ước làm nghề viết văn. Trưởng thành tôi cũng không hình dung được có ngày tôi trở thành kẻ thù số 1 của chế độ này. Tương tự như thế, chưa bao giờ tôi cố ý đi tìm đọc giáo lý nhà Phật.

Sau cái chết của cha tôi 1992 trong tôi bỗng nảy sinh nhu cầu siêu hình. Vì sao, chính tôi cũng không rõ. Có điều, tôi biết chắc chắn rằng đời người thường chưa chất những ngộ nhận, những nhầm tưởng, những bí ẩn, những che giấu…. tất cả những gì mà ta thường gọi là “bờ lú bến mê”. Trong quan hệ giữa con người với con người, những mê lú thường đem lại khổ đau, hờn oán.. Thâm tình càng sâu, khổ đau càng lớn. Bởi vì, chỉ những người ta yêu thương mới có khả năng làm cho ta đau đớn. Phật tổ Như Lai dạy: “Con cái là những sợi xích bằng vàng”. Với tôi, sự thật dạy thêm vế đối: “Cha mẹ là những chiếc cùm bằng ngọc“. Trong gia đình tôi, tồn tại một nguyên tắc “Gia pháp cao hơn quốc pháp”. Vì lẽ đó, trong hơn một thập kỷ cha tôi đã áp dụng với tôi mọi hình thức kỷ luật quân đội để ép tôi sống với người chồng cũ, vì “bỏ chồng là điếm nhục gia phong”..…Có lẽ vì những ẩn ức đó tôi bỗng có nhu cầu siêu hình sau cái chết của ông, dù người âm kẻ dương chúng tôi vẫn là cha con và vẫn có nhu cầu trò chuyện.. Cũng chính vì những ẩn ức đó cuộc gặp gỡ và thờ phụng Phật bà Quan Âm đối với tôi là một hạnh duyên, một may mắn vĩ đại và thần bí.

Là người viết văn tôi biết rằng với thời gian và qua thời gian tất thảy các nhân vật lớn thuộc mọi tôn giáo đều được thần thoại hóa. Nhưng cho dù tước bỏ mọi chi tiết huyền hoặc, mọi sợi chỉ óng ánh thêu dệt chân dung tôi vẫn thấy Phật Bà là một nhân cách vĩ đại tỏa sáng. Bị chinh phục hoàn toàn vì nàng công chúa từ bỏ cuộc đời xa hoa của hoàng cung, chạy trốn sự truy đuổi của quân lính triều đình, cưỡi hổ về phương Nam tu hành, tôi đi tìm đọc giáo lý nhà Phật.

Vậy là con đường tôi đi ngược chiều với nhiều người khác. Tuy nhiên phương Tây có câu: “Mọi con đường đều dẫn đến Roma”.

Tôi tin rằng có nhiều con đường khác nhau dẫn đến tôn giáo nói chung cũng như cửa Phật nói riêng. Tùy theo duyên phận từng người, họ có thể dấn thân vào hành trình đó sớm hay muộn, lâu dài hay ngắn ngủi, sâu hay nông, thành thực hay chiếu lệ …v ..v…

Đối với tôi, đạo Phật đem lại nhiều chân lý vĩnh hằng: Tính vô thường của Tồn Sinh, luật ly hợp của con người, vòng quay Sinh Diệt …v..v… Nhưng trước tất thảy mọi triết thuyết, đạo Phật dạy ta xử lý ra sao trong các mối mâu thuẫn nan giải của đời người. Lịch sử cá nhân của Quán Âm Bồ Tát đem cho tôi một sức mạnh mới mẻ và sự thanh thản triệt để trong tâm hồn.. Tôi hiểu là từ ngàn xưa những con người vĩ đại đã giải quyết ra sao mối mâu thuẫn giữa các thế hệ đặt trong bối cảnh tình huyết nhục.

Tôi hiểu rằng ngoại trừ ngày cha mẹ đặt ta vào cõi đời, con người phải tự mình sinh đẻ ra mình, và lần sinh trưởng thứ hai này mới thực sự quyết định cho nhân cách cũng như sự nghiệp.

Tôi hiểu rằng không phải vinh quang cũng không phải chiến thắng mà chính là Tình Yêu và sự Hy Sinh nâng con người lên cao.

Và tất thảy những ý tưởng ấy được chắt lọc ra khi tôi đọc “Chuyện Quan Âm”. Cho nên tôi như được hồi sinh khi tẩy xóa mọi ẩn ức, thanh lọc tâm hồn. Tôi cúi đầu trước vong linh cha tôi vì hiểu rằng chính ông và chỉ ông mới tạo ra tôi nhưng tôi vẫn đi đúng con đường tôi đã chọn, không mảy may nao núng. Tôi cũng không bao giờ ép duyên hay can thiệp vào đời tư của các con tôi. Và bài học lớn lao ấy tôi học được từ Phật bà Quan Âm. Ngài chính là cơ duyên đưa tôi đến cửa Thiền.

Cuối cùng, để cảm ơn tất cả những ai đã quan tâm hỏi tôi, nhất là các Phật tử tôi xin phép nói rằng:

Tôi vẫn mơ ước có một ngày, khi lũ lợn bẩn thỉu bị đuổi khỏi đền chùa, mọi nơi thờ cúng linh thiêng được trả lại cho các chân tu những người mà mệnh và nghiệp gắn kết họ với tôn giáo… Ngày ấy, nếu Trời còn cho sống tôi sẽ lại “vãn cảnh chùa”, để thưởng thức mùi hương thuần khiết, thanh cao của hoa mộc hoa sói, hoa lan…. những loài hoa chỉ được phép trồng nơi thiêng liêng hương khói.

DƯƠNG THU HƯƠNG

============

Thưa bà Dương Thu Hương,

Tôi đã được đọc bài Tôi là Phật tử của bà, rất hay. Nghĩ đến bà, tôi lại nhớ đến hình ảnh những vị nữ anh hùng của dân tộc: bà Trưng, Bà Triệu, bà Lê Chân? Nhân đây, tôi xin kể hầu bà 2 câu chuyện về lãnh vực bà đang kể đây, đồng thời xác minh với bạn đọc rằng, câu chuyện bà kể hoàn toàn có thể có thật 101%. Nhưng chuyện tôi kể cho bà còn ly kỳ và khốn nạn hơn gấp bội.

I. KHỐNG CHẾ SINH HOẠT VÀ CHIẾM ĐOẠT CƠ SỞ TÔN GIÁO.

Vào những năm cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, bọn Cộng Sản áp dụng chính sách khống chế sinh hoạt của các tôn giáo, đồng thời bằng mọi cách chiếm đoạt các cơ sở tôn giáo bao gồm cả đất đai và các thứ tài sản khác. Mà vấn đề này hiện nay đang có sự tranh chấp quyết liệt chưa đến hồi kết thúc, bởi bọn Cộng Sản cố tình chiếm giữ không hoàn lại hoặc bồi thường với giá rẻ mạt hòng bóp nghẹt cơ sở sinh hoạt tôn giáo ở các địa phương.

Trong thời gian đó có một ngôi chùa trước đây thuộc tỉnh Đồng Nai, Cộng Sản cho người mang Quyết định đến để tịch thu toàn bộ cơ sở của chùa nhưng các vị tu sĩ ở đây nhất quyết không giao, vì đây là cơ sở tôn giáo có giấy tờ do Pháp luật công nhận nghiêm chỉnh. Bằng mọi cách, các vị tu sĩ nơi đây quyết bảo vệ ngôi chùa. Sau nhiều lần bọn Cộng Sản tấn công bằng hành động và tinh thần đối với tu sĩ của chùa này, nhưng đều bị dội ngược do tinh thần đấu tranh quyết liệt của các vị tu sĩ. Thế là Cộng Sản bắt đầu bày ra chiêu khác, quyết không tha miếng mồi ngon này.

Cộng sản gài bọn Công an Ngoại tuyến giả dạng Phật tử đi viếng chùa. Qua nhiều lần đến chùa Lễ Phật, bọn Công an này dần dà làm quen rồi làm thân với các vị tu sĩ của chùa này. Sau đó, họ đem chuyện định tổ chức vượt biên và mời các vị tu sĩ nơi đây cùng đi với họ. Trong hoàn cảnh nhiễu nhương, bị áp bức bởi sự cầm quyền của Cộng Sản, có mấy ai tha thiết sống dưới chế độ này. Được thoát ra khỏi sự kiềm hãm của chế độ độc tài này dù có phải tan da nát thịt thì đứa trẻ lên năm cũng sẽ nói lời tạ ơn Thượng Đế, huống chi các vị tu sĩ nơi đây luôn bị tra tấn bởi bọn Cộng Sản hết tháng này sang tháng khác, năm này sang năm khác. Thế cho nên, các vị này nghe theo lời bọn họ chuẩn bị chuyến ra khơi để được giải phóng kiếp người mất tự do này.

Đến hẹn, bọn Công an chìm này đưa các vị tu sĩ ra một bãi biển để chờ lên tàu. Trong khi đó, một lũ Công an đã mai phục sẵn tại địa điểm chúng đã chọn để đưa các tu sĩ này đến. Mọi người đang loay hoay trông ngóng tàu đến rước họ đi thì bọn Công an ập đến hốt cả đoàn người có các vị tu sĩ này. Lúc này, các tu sĩ mới ngộ ra là bọn Phật tử thân thiết ngày nào là Công an chìm được cài vào chùa khi bọn họ móc thẻ Công an dí vào mặt các tu sĩ. Công việc tiếp theo mới là vấn đề gây cấn.

Các vị tu sĩ này bị áp giải về đồn Công an với tội danh phản quốc và được bọn Cộng sản đưa ra 2 điều kiện để khống chế nhằm mục đích chiếm ngôi chùa nói trên:

– Phải giao toàn bộ cơ sở và tài sản của ngôi chùa cho Cộng sản.

– Phải vào tù gỡ lịch.

Trong hoàn cảnh này, các vị tu sĩ phải chấp nhận điều kiện thứ nhất. Bởi nếu chấp nhận điều kiện thứ hai là đi tù thì bọn họ cũng chiếm cơ sở chùa vô điều kiện.

Đến nay, cơ sở chùa này vẫn chưa được trả lại cho Giáo hội Phật giáo.

II. HÒA THƯỢNG GIÒ HEO.

Đây là trường hợp trùng hợp với câu chuyện của bà kể, nghĩa là Cộng sản cài người vào Phật giáo để nắm tình hình và điều khiển, kiểm soát, chi phối luôn cả mọi việc sinh hoạt của tôn giáo.

Vị Hòa thượng được bầu làm Trưởng Ban trị sự Thành hội Phật giáo của Sài Gòn trước nhiệm kỳ của ngài HT. Thích Trí Quảng đang giữ chức vụ này hiện nay được giới Phật tử và Tăng Ni trong nước gọi là Hòa thượng Giò Heo. Bởi vì vị Hòa thượng này luôn luôn đeo cây súng ngắn bên mình, ngay cả khi đi thuyết pháp. Không cần phải giải thích thì mọi người cũng phải hiểu rằng, vị Hòa thượng này là Cộng sản và là người do Cộng sản cài vào để điều khiển giáo hội.

*TÓM LẠI:

Trong thời buổi nhiễu nhương do bọn Cộng sản độc tài tạo ra thì mọi việc đều có thể xảy ra. Nhưng vấn đề quan trọng là tôn giáo cũng bị bọn họ thanh trừng hòng tiêu diệt niềm tin tôn giáo của nhân dân. Cũng may, truyền thống Phật giáo Việt Nam đã có từ hơn ngàn năm nay, nên không dễ làm xói mòn đức tin tôn giáo trong người dân bởi những hành động đê hèn mưu ma chước quỷ của Cộng sản.

Mong rằng niềm tin tôn giáo của bà cũng thế. Tôi hy vọng bà sẽ trở lại với những ngôi chùa thân thương mà bà từng gắn bó để gởi gắm tâm hồn mình những khi bị bức bách, đau khổ nhất vì công cuộc đấu tranh đòi lại tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Sau cơn mưa bão trời sẽ sáng, bà hãy tin như thế nhé! Và nên nhớ lời dạy của cha ông ta: Đời không đạo đời vô liêm sỉ.

Cầu chúc bà có nhiều sức khỏe và nhiều nghị lực để tiếp tục đấu tranh cho tự do trong năm mới này. Trân trọng chào bà.

Uất Thiếu Xuân